TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 19-6-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Dịu
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Đôi;
Bà Khúc Thị Minh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Quý - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy và Nhà tạm giữ Công an huyện K, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 27/2024/TLST-HS ngày 24 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Vũ Đình Ú, sinh ngày 01 tháng 9 năm 1990 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Thôn H, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Đình T và bà Vũ Thị L; có vợ là Đỗ Thị H và 02 con; tiền án: Tại Bản án số 17/2021/HS-ST ngày 19-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích). Nhân thân: Ngày 26/4/2020, bị Chủ tịch UBND xã N Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, với thời hạn 03 tháng (đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính); bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 17/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 22 giờ 40 phút ngày 14/4/2024, tại thôn H, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; Công an huyện K phối hợp với Công an xã N kiểm tra, phát hiện, thu giữ trong lòng bàn tay phải của Vũ Đình Ú 01 đoạn ống nhựa màu trắng, được hàn kín hai đầu, kích thước 3 x 0,5 cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (nghi là ma túy, niêm phong ký hiệu M1). Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Ú, không thu giữ vật chứng gì có liên quan đến ma túy.
Kết luận giám định số 465 ngày 17/4/2024 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: Tinh thể màu trắng của mẫu M1 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,18 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra, Vũ Đình Ú khai nhận: Khoảng 21 giờ ngày 14/4/2024, Ú đi xe taxi của người không quen biết từ nhà đến khu vực đường tàu quận L, thành phố Hải Phòng gặp một người đàn ông không quen biết khoảng 40 tuổi. Ú hỏi mua 500.000 đồng ma túy đá của người này, người đó đưa cho Ú 01 ống nhựa chứa ma túy đá. Xong Úy cất giấu ống ma túy vừa mua được trong túi quần bên phải của mình và gọi xe taxi về nhà. Úy ra khu vực trước cửa nhà, sử dụng hết một phần ma túy, số ma túy còn lại Ú cầm trong lòng bàn tay phải mang về nhà cất giấu để sử dụng dần thì bị lực lượng Công an kiểm tra, thu giữ vật chứng như trên.
Về vật chứng: 0,13 gam ma túy Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 465MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên và đồng ý với cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngoài ra bị cáo khai: Bị cáo sử dụng ma túy đá từ năm 2019 đến năm 2020 thì bị cáo không sử dụng nữa. Đầu năm 2024, bị cáo lại tiếp tục sử dụng ma túy đá. Do bị cáo nghiện ma túy nên chiều ngày 25/01/2024, bị cáo đi mua ma túy về sử dụng dần, không có mục đích nào khác. Khi bị cáo thuê người lái taxi chở bị cáo ra nội thành H nhưng bị cáo không nói cho người đó biết bị cáo mua ma túy. Số tiền bị cáo mua ma túy thuộc quyền sở hữu của bị cáo do bị cáo lao động mà có. Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh bị cáo.
Bản cáo trạng số 31/CT-VKSKT, ngày 24 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy truy tố bị cáo Vũ Đình Ú về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên Cáo trạng, truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Vũ Đình Ú từ 18 tháng đến 21 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,13 gam ma túy Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 465MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H (đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý).
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng hình phạt nhẹ nhất để nhanh được trở về gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản vụ việc, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và nội dung bản cáo trạng cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở kết luận: Hồi 22 giờ 40 phút ngày 14/4/2024, tại thôn H, xã N, huyện K, thành phố Hải Phòng; Vũ Đình Ú có hành vi cất giấu trái phép 0,18 gam ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Như vậy bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, đúng như Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Thụy đã truy tố và đề nghị tại phiên tòa.
[3] Tính chất vụ án nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; ảnh hưởng đến trật tự an toàn xã hội. Cần áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo đồng thời để phòng ngừa tội phạm.
[4] Nhân thân bị cáo đã có 01 tiền án và 01 tiền sự:
- - Tại Bản án số 17/2021/HS-ST ngày 19-3-2021 của Tòa án nhân dân huyện Kiến Thụy xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo chấp hành xong hình phạt chính (phạt tù) từ ngày 14/7/2022, tính đến ngày 14/4/2024 (ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này) là 01 năm 09 tháng (chưa được 02 năm); căn cứ Điều 70 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo chưa được xóa án tích.
- - Tiền sự: Ngày 26/4/2020, bị Chủ tịch UBND xã N Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, với thời hạn 03 tháng, kể từ ngày 26/4/2020. Bị cáo đã chấp hành xong quyết định này từ ngày 26/7/2020; tính đến ngày 14/4/2024 (Ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội lần này) là hơn 03 năm; căn cứ Điều 7 của Luật xử lý vi phạm hành chính thì bị cáo đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; có bác ruột được tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba; Huân chương chiến sĩ giải phóng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
[7] Sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo. Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[8] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định, thu nhập thấp, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là phù hợp.
[9] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,13 gam ma túy Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 465MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H (đang do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy quản lý), cần tịch thu tiêu hủy theo Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[10] Trong vụ án này, theo lời khai bị cáo mua ma túy của người đàn ông không quen biết nhưng Cơ quan điều tra chưa xác định được tên tuổi, địa chỉ của người này nên tiếp tục xác minh, xử lý theo quy định. Người lái xe taxi không biết bị cáo đi mua ma túy nên không xử lý là đúng pháp luật.
[11] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Vũ Đình Ú.
Tuyên bố bị cáo Vũ Đình Ú phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Vũ Đình Ú: 21 (Hai mươi mốt) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15/4/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy 0,13 gam ma túy Methamphetamine cùng vỏ bao gói của mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong bì giấy, dấu niêm phong 465MT/PC09 của Phòng K Công an thành phố H (Chi tiết theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kiến Thụy).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Dịu |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Đặng Thị Đôi | Vũ Thị Dịu |
Khúc Thị Minh |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN THỤY, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử
