Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẨM PHẢ

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 19 - 4 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Gái.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Hiền, nguyên là Giáo viên;

và bà Bùi Thị Nguyệt.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Phạm Tiến Đạt;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Bích Hằng và bà Phạm Thị Quỳnh L; Kiểm sát viên.

Trong các ngày 17 và ngày 19 tháng 4 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thành phố Cẩm Phả xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 08/2024/TLST - HS ngày 02 tháng 02 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 22/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024; Quyết định Hoãn phiên tòa số 05/2024/HSST ngày 03/4/2024 đối với các bị cáo:

1. Vũ Đức D; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 20/01/2006, tại huyện T, thành phố Hải Phòng;

Nơi thường trú: thôn B, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng; Nơi tạm trú: tổ F, khu F, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; nghề nghiệp: không; con ông: Vũ Văn C và con bà Bùi Thị H; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 15/11/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

2. Nguyễn Văn T; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 11/11/2006, tại huyện N, tỉnh Thanh Hóa;

Nơi thường trú: đội 9, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng;

Nơi tạm trú: tổ A, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 11/12; nghề nghiệp: học sinh Trường Cao đẳng C2; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Mai Thị L1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 17/10/2023 bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

3. Trần Gia K; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày: 06/02/2007, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi cư trú: tổ F, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; nghề nghiệp: học sinh Trung tâm Giáo dục thường xuyên thành phố C (đã thôi học từ ngày 29/3/2024); con ông Trần Văn T2 và bà Nguyễn Thị H1; vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 26/10/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

4. Lê Đức H2; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 22/5/2007, tại thị xã Q, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi thường trú: tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; Nghề nghiệp: học sinh trường Cao đẳng C2 và Xây dựng C2 (đã thôi học); con ông Lê Công H3 và bà Cao Thị T3; vợ, con: chưa có;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 31/10/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

5. Nguyễn Trọng H4; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 22/01/2007, tại huyện K, tỉnh Thái Bình;

Nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; nghề nghiệp: không; con ông Nguyễn Văn D1 và bà Phạm Thị T4 (là cha mẹ nuôi); vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Nhân thân: Ngày 13/7/2022, Tòa án nhân dân (viết tắt: TAND) thành phố C quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng đã chấp hành xong ngày 26/6/2023.

Bị cáo đầu thú ngày 18/10/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; ngày 03/4/2024 bị cáo chấp hành Quyết định tạm giữ, ngày 12/4/2024 Công an thành phố C đã quyết định khởi tố bị can, Lệnh tạm giam thời hạn 01 tháng 01 ngày về tội “Trộm cắp tài sản”; có mặt.

6. Nguyễn Đức T5; Tên gọi khác: không;

Sinh ngày 05/11/2006, tại thành phố C, tỉnh Quảng Ninh;

Nơi thường trú: thôn P, xã L, thị xã K, tỉnh Hải Dương; Nơi tạm trú: tổ F, khu E, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; giới tính: Nam; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; nghề nghiệp: Học sinh Trường Trung học phổ thông H10, thành phố C; con ông Nguyễn Văn B và bà Nguyễn Thị Y; Vợ. con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo đầu thú ngày 17/10/2023, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

*Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn T: bà Mai Thị L1 (mẹ đẻ bị cáo); sinh năm 1989; nơi cư trú: đội I, xã L, huyện T, thành phố Hải Phòng; nơi ở: tổ A, khu T, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

*Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Trần Gia K: ông Trần Văn T2 (bố đẻ bị cáo); sinh năm 1966; nơi cư trú: tổ F, khu C, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

*Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Lê Đức H2: bà Cao Thị T3 (mẹ đẻ bị cáo); sinh năm 1985; nơi thường trú: tổ A, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng; có mặt.

*Người đại diện hợp pháp đồng thời là người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trọng H4: bà Phạm Thị T4 (mẹ nuôi bị cáo); sinh năm 1965; nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

*Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Đức T5: ông Nguyễn Văn B (bố đẻ bị cáo); sinh năm 1981, nơi cư trú: tổ F, khu E, phường C, thành phố C, Quảng Ninh; có mặt;

Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Đức T5: ông Nguyễn Hải Đ (là chú bị cáo), sinh năm 1984; nơi cư trú tổ: 44, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Nguyễn Anh H5; Sinh ngày: 04/01/2008; Người đại diện hợp pháp: bà Nguyễn Thị X (bà nội của H5); sinh năm 1958; cùng nơi cư trú: Tổ A, khu S, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.

2. Bùi Anh T6, sinh ngày 14/7/2008; Người đại diện hợp pháp: ông Bùi Văn T7 (bố đẻ T6), sinh năm 1972; Cùng nơi cư trú: tổ D, khu B, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

3. Nguyễn Mạnh C1, sinh ngày 18/11/2007; Người đại diện hợp pháp bà Lê Thị H6, sinh năm: 1980; Cùng nơi cư trú: tổ F, khu D, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; có mặt.

* Đại diện Trường Cao đẳng C2: ông Nguyễn Văn N; Chức danh: Phó Trưởng phòng công tác học sinh sinh viên; có mặt.

* Đại diện Trường Trung học phổ thông H10, thành phố C: bà Trần Phương T8; Giáo viên nhà trường; có mặt.

* Người làm chứng: cháu Dương Minh H7, anh Nguyễn Trung H8, chị Nguyễn Thị T9, bà Nguyễn Thị X1, cháu Nguyễn Thái Bình D2, cháu Nguyễn Mạnh H9; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Trần Gia K, Lê Đức H2 và Nguyễn Đức T5 là bạn bè. Tối ngày 15/10/2023, nhóm của Vũ Đức D, Nguyễn Văn T có mâu thuẫn chửi bới với Nguyễn Anh H5 (sinh ngày 04/01/2008) và bị H5 đáp chai thủy tinh, sau đó giữa D và H5 hẹn đánh nhau. Tối ngày 16/10/2023, H5 gặp nhóm của D ở Q thì vẫy tay với nhóm D. Xong, H5 đi về lấy 01 thanh kim loại tự chế dài 03m, một đầu hàn 03 đoạn sắt nhọn, hình đinh ba (gọi ba chia) để đánh nhau. Còn D và Nguyễn Mạnh C1 (sinh ngày 18/11/2007) rủ T, H2, T5, H4, K, Bùi Anh T6 (sinh ngày 14/7/2008) đi tìm đánh nhau với H5. Nhóm bị cáo D đi 03 xe môtô không gắn biển kiểm soát gồm: T5 điều khiển xe mô nhãn hiệu Wave phía sau chở H4 cầm gậy gỗ, K cầm tuýp kim loại; H2 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, phía sau chở Danh cầm 02 tuýp kim loại, C1 cầm kiếm; T6 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave, phía sau chở T cầm tuýp kim loại, đi từ kho để đồ ở đường V, phường C qua Quốc lộ A, để tìm H5. Đến khoảng 23 giờ 10 phút cùng ngày, khi đi đến đường Bà T10 thuộc tổ B, khu Đ, phường C, thành phố C, nhóm D gặp H5. C1 cầm kiếm nhảy xuống xe chạy về phía Hào, còn H2, D, K đều cầm tuýp theo sau; T5 và T6 điều khiển xe đi theo hỗ trợ nhóm. H5 dùng ba-chia để đánh lại rồi bỏ chạy đến khu vực gần ngõ I đường B, lúc này T5 và T6 cũng dừng xe lại. Khi H5 chạy lên vỉa hè thì bị D, C1, H2, T, K cầm hung khí dồn vào cửa nhà dân nên H5 chạy ra lòng đường. K, T cầm tuýp phi về phía H5 nhưng không trúng bị rơi xuống đường. H4 nhặt được 01 tuýp và cầm cùng gậy gỗ tiến về phía H5, cùng H2 dùng tuýp vụt nhiều phát về phía H5 nhưng H5 dùng ba chia đỡ được. T, D, K, C1 đều cầm hung khí đứng xung quanh. Thấy vậy, H2 chạy ra lấy xe mô tô dựng gần đó, thì bị H5 dùng ba chia chọc vào người. D chạy đến dùng tuýp vụt, H5 dùng ba chia đỡ được thì D, K tiếp tục dùng tuýp ném về phía H5 nhưng không trúng. Hai bên sử dụng hung khí đuổi đánh nhau, hô hào, hò hét giữa lòng đường phố Bà Triệu và vỉa hè sát nhà dân xung quanh. Lúc này, người dân hô hoán thì T5 điều khiển xe đến vị trí đánh nhau đón T, H4 và H2; còn T6 điều khiển xe chở C1, D chở K bỏ chạy. Hào vứt ba chia và chạy vào quán nước ven đường, thì thấy nhóm D, C1, K, T6 quay lại, H5 nhặt đá ném nhưng không trúng ai; C1 cầm kiếm chém, K dùng tuýp, D dùng tay chân đánh nhau với H5 khoảng 05 phút thì bỏ đi, còn H5 được bạn đưa đến Bệnh viện.

Tại bản kết luận giám định số 971 ngày 01/12/2023 của Trung tâm pháp y Sở Y1, kết luận: tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Anh H5 do thương tích gây nên là 02% (hai phần trăm). Cơ chế tổn thương: chấn thương vùng vai phải do vật tày, các tổn thương còn lại do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Công văn số 4470/UBND-VP ngày 18/10/2023, của Ủy ban nhân dân (viết tắt: UBND) thành phố C thể hiện đã tổ chức họp tổ dân khu phố và UBND phường C xác định: vụ việc đã gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn phường C nói riêng, thành phố C nói chung. UBND thành phố C đề nghị Cơ quan điều tra căn cứ quy định pháp luật tổ chức điều tra, xác minh, xử lý các đối tượng theo đúng quy định của pháp luật.

Cơ quan điều tra đã thu giữ gồm: 01 gậy kim loại đã qua sử dụng hình trụ tròn có đường kính 02 cm, dài 119cm, có một đầu cắt vát nhọn – K xác định do K sử dụng; 01 gậy gỗ đã qua sử dụng hình trụ tròn có đường kính 04 cm, dài 120 cm – T5 xác định gậy này của T5 dùng; 01 thanh kim loại tròn dài 300 cm, đường kính 2,5 cm, tại một đầu của thanh kim loại gắn 03 thanh kim loại dài 25 cm do bà Nguyễn Thị X1 nhặt được của nhóm nam thanh niên đánh nhau; 01 đoạn video có thời lượng 01 phút 38 giây, được quay bằng điện thoại cá nhân, ghi lại hình ảnh nhóm nam thanh niên đánh nhau do chị Đặng Thị M giao nộp; 01 đoạn video có thời lượng 00 phút 55 giây, được quay bằng điện thoại cá nhân, ghi lại hình ảnh nhóm nam thanh niên đánh nhau do chị Nguyễn Thị T9 giao nộp. Các đoạn video ghi trên được cơ quan điều tra chuyển lưu giữ vào USB theo hồ sơ vụ án.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Trần Gia K, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu; bị cáo Nguyễn Đức T5 còn khai đi xe mô tô theo nhằm hỗ trợ nhóm D khi bỏ chạy và chặn đầu nếu H5 di chuyển đến, quá trình đánh nhau hai bên sử dụng kiếm, tuýp sắt, gậy gỗ kèm theo hai bên chửi bới, văng tục làm ảnh hưởng đến người và phương tiện lưu hành trên quốc lộ, ảnh hưởng đến người dân sống ở khu vực đó. Sau khi vụ việc xảy ra cả nhóm đã vứt bỏ hung khí ở ven đường.

Bị cáo Nguyễn Trọng H4 khai thêm: khi hai bên ẩu đả đánh nhau kèm theo là chửi bới văng tục đuổi nhau giữa hai bên, thời gian đánh đuổi nhau khoảng 20-30 phút, gây mất trật tự trị an ở khu phố; Cơ quan điều tra đã truy tìm các thanh kim loại còn lại và kiếm trong vụ án nhưng không tìm được.

Đối với 01 gậy kim loại, 01 gậy gỗ và 01 thanh kim loại đã thu giữ, Cơ quan điều tra chuyển Chi cục thi hành án dân sự thành phố C trong quá trình chuẩn bị xét xử để bảo quản xử lý theo quy định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cháu Nguyễn Anh H5 vắng mặt tại phiên tòa nhưng có lời khai lưu hồ sơ vụ án: Tôi và D có mâu thuẫn nên tối ngày 16/10/2023 tôi hẹn và mang theo hung khí tự chế để đi đánh nhau với D, đi đến đường B gặp nhóm D đông người và mang theo nhiều hung khí, nhóm người này xông vào đánh tôi và tôi đánh trả lại, khi Công an đến nhóm người này lên xe bỏ đi, tôi bỏ lại hung khí vào quán uống nước; hai phút sau C1, H2, D, K đi đến, hai bên tiếp tục ẩu đả đánh nhau, C1 cầm kiếm chém vào đầu tôi, tôi dùng tay chân đánh trả lại khoảng 5 phút nhóm người này bỏ đi, tôi đến Bệnh viện S; quá trình điều tra vụ án người gây thương tích cho tôi đã xin lỗi, đền bù thiệt hại cho tôi, do thương tích đã lành, tôi rút yêu cầu khởi tố với họ và không yêu cầu đề nghị gì khác.

Người làm chứng anh Nguyễn Trung H8 khai: khoảng hơn 23 giờ ngày 16/10/2023 tôi đang đứng trước cửa nhà có 01 nhóm thanh niên từ 7-8 người đi xe máy đến trước nhà chửi bới, hò hét cầm hung khí lao vào nhau, đánh nhau, hai bên đánh nhau 5 phút thì bỏ chạy.

Chị Nguyễn Thị T9, bà Nguyễn Thị X1 khai nhận đêm ngày 16/10/2023 được chứng kiến nhóm thanh niên cầm gậy gỗ, tuýp sắt ẩu đả đánh nhau tại phố Bà T10, chị T9 nộp cho cơ quan điều tra 01 đoạn Video do chị quay chụp khi hai nhóm thanh niên đánh nhau; bà X1 còn khai: sau khi nhóm thanh niên bỏ đi vứt lại 01 thanh kim loại dài 300 cm, đường kính 2,5 cm, một đầu thanh kim loại gắn 03 thanh kim loại dài 25 cm bà đem nộp cơ quan Công an. Tại phiên tòa cũng như tại các Biên bản làm việc các bị cáo Nguyễn Trọng H4, Nguyễn Đức T5, Trần Gia K, Vũ Đức D, Lê Đức H2, Nguyễn Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Anh T6, Nguyễn Mạnh C1 được xem lại đoạn Video dài 0 phút 55 giây do chị Nguyễn Thị T9 nộp và đoạn Video dài 01 phút 38 giây do bà Đặng Thị M nộp đều có hình ảnh Vũ Đức D cùng các đồng phạm cầm các phương tiện, hung khí nguy hiểm đánh nhau với Nguyễn Anh H5. Các bị cáo trong vụ án đều xác định: xem đoạn Video do bà M nộp đều có hình ảnh các bị cáo tham gia trong đó có bị cáo H4 là người cầm tuýp kim loại và gậy gỗ; Nguyễn Đức T5, Bùi Anh T6 không tham gia đánh nhau với H5, hình ảnh T5 lái xe chở T và H4. Trong video có nhiều tiếng kim loại va chạm vào nhau, thời điểm 00 giờ 35 phút đến 00 giờ 43 giây hình ảnh H4 cầm ống tuýp và gậy gỗ lao về phía H5; thời điểm 01 phút 23 giây hình ảnh H4 cầm hung khí ngồi lên xe do T5 lái; thời điểm 00 phút 49 giây và 01 phút 01 giây trong video hình ảnh K cầm ống tuýp ném về phía H5; thời điểm 01 phút 09 giây hình ảnh K ngồi lên xe do D lái đuổi theo Nguyễn Anh H5...

Xem đoạn Video do chị T9 nộp ghi nhận sự việc đánh nhau giữa nhóm D và nhóm H5, hình ảnh bị cáo H4 cầm hung khí là tuýp kim loại và gậy gỗ; thời điểm 00 phút 01 giây đến 00 phút 05 giây hình ảnh H4 cầm ồng tuýp và gậy gỗ vụt phía Hào; thời điểm 00 phút 13 giây hình ảnh K cầm ống tuýp ném trúng vào người Nguyễn Anh H5....; các bị cáo trong vụ án đều xác định nội dung hình ảnh phù hợp nhau, phù hợp với lời khai của của Nguyễn Anh H5.

Người làm chứng Nguyễn Thái Bình D2, Nguyễn Mạnh H9 khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ cùng nhiều tài liệu chứng cứ có lưu trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số: 09/CT – VKSCP ngày 02/02/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả truy tố các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Trần Gia K, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng, đề nghị áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Trọng H4.

Xử phạt: Vũ Đức Danh từ 15 đến 18 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt: Nguyễn Trọng H4 từ 15 đến 18 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày 03/4/2024.

Đề nghị áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; (riêng bị cáo T5 áp dụng thêm khoản 2 Điều 54); Điều 17, Điều 58; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 Bộ luật Hình sự; áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Lê Đức H2, Trần Gia K, Nguyễn Đức T5.

Xử phạt: Nguyễn Văn T từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Trần Gia K từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Lê Đức H2 từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Nguyễn Đức T5 từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Gia K cho UBND phường C, giao bị cáo Nguyễn Đức T5 cho UBND phường C, thuộc thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; giao bị cáo Lê Đức H2 cho UBND phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo T, K, H2, T5 có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa người đại diện hợp pháp, người bào chữa cùng các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 và Trần Gia K đều tham gia tranh luận và xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cẩm Phả, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 và Trần Gia K đều khai nhận khoảng 23 giờ 10 phút ngày 16/10/2023, tại tổ B, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Vũ Đức D cùng Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 và Trần Gia K đi tìm đánh Nguyễn Anh H5, cả nhóm sử dụng tuýp kim loại, gậy gỗ, kiếm là hung khí nguy hiểm, hò hét, đuổi, đánh nhau trên đường phố với H5 gây thương tích làm tổn hại 2% sức khỏe cho H5 và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Như vậy: Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 23 giờ 10 phút ngày 16/10/2023, tại tổ B, khu Đ, phường C, thành phố C, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Vũ Đức D cùng Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 và Trần Gia K đi tìm đánh Nguyễn Anh H5, cả nhóm sử dụng tuýp kim loại, gậy gỗ, kiếm là hung khí nguy hiểm, hò hét, đuổi, đánh nhau trên đường phố với H5 gây thương tích làm tổn hại 2% sức khỏe cho H5 và gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

Vậy việc truy tố đối với các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 và Trần Gia K như nội dung bản cáo trạng số: 09/CT – VKSCP ngày 02/02/2024 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người đúng tội, với các tình tiết giảm nhẹ và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là phù hợp theo quy định.

Hành vi các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội và xâm hại trật tự công cộng, ảnh hưởng đến nếp sống lành mạnh của nhân dân, gây mất trật tự trị an tại địa phương, các bị cáo do ý thức chấp hành pháp luật kém, coi thường kỷ cương dẫn đến thực hiện hành vi phạm tội, do có mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt dẫn đến việc các bị cáo trong vụ án cùng Nguyễn Anh H5 đã sử dụng các phương tiện nguy hiểm là kiếm sắt, tuýp sắt, gậy gỗ để tấn công đánh nhau, các bên hò hét, chửi bới, văng tục, đuổi đánh nhau trên đường phố gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến nếp sống lành mạnh của nhân dân.

Vụ án có tính đồng phạm song giản đơn, bị cáo Vũ Đức D là người khởi xướng và tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên với vai trò chính và đứng đầu trong vụ án; Tiếp đến là các bị cáo Nguyễn Trọng H4, Nguyễn Văn T, Trần Gia K, Lê Đức H2 đều là bị cáo tích cực thực hiện hành vi phạm tội nên với vai trò, vị trí ngang nhau và đứng sau bị cáo D; song bị cáo Nguyễn Trọng H4 có nhân thân xấu, năm 2022 bị TAND thành phố Cẩm Phả quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dưỡng, bị cáo H4 đã chấp hành xong quyết định nhưng nay phạm tội nên mức hình phạt đối với bị cáo H4 là cao hơn so với các bị cáo T, K, H2 và bằng với bị cáo D là phù hợp, ngoài ra trong thời gian chuẩn bị xét xử bị cáo H4 bị Công an thành phố C khởi tố về tội trộm cắp tài sản và bị giam giữ từ ngày 03/4/2024, nay kết thúc vụ án này thời hạn giam giữ của bị cáo H4 được tính từ ngày 03/4/2024. Đối với bị cáo Nguyễn Đức T5 là người tham gia với vai trò thứ yếu nên hình phạt đối với T5 là thấp nhất trong vụ án.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra các bị cáo đều khai nhận thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, sau khi phạm tội các bị cáo đều đầu thú trước cơ quan Công an, bị cáo H2, D còn là con em của người có công với cách mạng, các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi đều chưa đủ 18 tuổi, nhận thức có phần hạn chế nên xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 91 Bộ luật hình sự và thời hạn tù được áp dụng theo khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự; do có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Gia K, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 được áp dụng khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

[3] Về vật chứng gồm: 01 gậy kim loại đường kính 02 cm, dài 119cm; 01 gậy gỗ đường kính 04 cm, dài 120 cm; 01 thanh kim loại tròn dài 300 cm, đường kính 2,5 cm, tại một đầu gắn 03 thanh kim loại dài 25 cm đều là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[4] Về án phí: Các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5, Trần Gia K phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp có quyền kháng cáo theo luật định.

Đối với Nguyễn Mạnh C1, Bùi Anh T6, Nguyễn Anh H5 có hành vi gây rối trật tự công cộng nhưng đều chưa đủ 16 tuổi, chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và đã bị xử phạt hành chính nên không đề cập.

Đối với 03 xe mô tô do nhóm Vũ Đức D sử dụng, Cơ quan điều tra xác minh của các anh Nguyễn Văn T11, Bùi Văn T7, chị Hoàng Thị N1, không biết các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, nên không đề cập xử lý.

Quá trình đánh nhau người liên quan Nguyễn Anh H5 bị tổn hại 2% sức khỏe nhưng không có yêu cầu khởi tố; Cơ quan Điều tra đã xử phạt hành chính với Vũ Đức D, Trần Gia K (người gây tổn hại cho H5) nên không đề cập.

01 đoạn video có thời lượng 01 phút 38 giây do bà Đặng Thị M giao nộp; 01 đoạn video có thời lượng 00 phút 55 giây do chị Nguyễn Thị T9 giao nộp; Cơ quan điều tra đã chuyển lưu giữ vào USB nay được lưu hồ sơ vụ án.

Từ các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Trọng H4.

Điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, (bị cáo T5 áp dụng thêm khoản 2 Điều 54) Điều 91, khoản 1 Điều 101, khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Gia K, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5;

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Trọng H4, Nguyễn Văn T, Trần Gia K, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Vũ Đức D 15 (mười lăm) tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Xử phạt: Nguyễn Trọng H4 15 (mười lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị giam giữ ngày 03/4/2024 (theo quyết định khởi tố bị can số 121/QĐ-CQCSĐT ngày 12/4/2024, quyết định tạm giữ số 625/QĐ-CQCSĐT ngày 03/4/2024, Lệnh tạm giam số 323/LTG-CQCSĐT ngày 12/4/2024 về tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Nguyễn Văn T 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Trần Gia K 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Lê Đức H2 12 (mười hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Xử phạt: Nguyễn Đức T5 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao các bị cáo Nguyễn Văn T, Trần Gia K cho UBND phường C, giao bị cáo Nguyễn Đức T5 cho UBND phường C, đều thuộc thành phố C, tỉnh Quảng Ninh; giao bị cáo Lê Đức H2 cho UBND phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách). Gia đình người bị kết án Nguyễn Văn T, Trần Gia K, Nguyễn Đức T5, Lê Đức H2 có trách nhiệm phối hợp với cơ quan tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người đó.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 luật Thi hành án hình sự.

Áp dụng: Điểm a khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy: 01 gậy kim loại hình trụ tròn có đường kính 02 cm, dài 119cm, có một đầu cắt vát nhọn; 01 gậy gỗ hình trụ tròn có đường kính 04 cm, dài 120 cm; 01 thanh kim loại tròn dài 300 cm, đường kính 2,5 cm, tại một đầu của thanh kim loại gắn 03 thanh kim loại dài 25 cm đều đã qua sử dụng. Vật chứng được thi hành theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 63/BB-THA ngày 11/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cẩm Phả.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức, thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5, Trần Gia K, mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo Vũ Đức D, Nguyễn Văn T, Nguyễn Trọng H4, Lê Đức H2, Nguyễn Đức T5, Trần Gia K, người đại diện hợp pháp, người bào chữa của bị cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bùi Anh T6, Nguyễn Mạnh C1 và người đại diện hợp pháp của họ, người có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án;

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Nguyễn Anh H5 và người đại diện hợp pháp vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Q/Ninh;
  • - VKSND tỉnh Q/Ninh;
  • - VKSND thành phố C/Phả;
  • - CQCSĐT CA thành phố C/Phả;
  • - CQTHA HS thành phố C/Phả;
  • - Chi cục THADS thành phố C/Phả;
  • - Bị cáo và người đại diện hợp pháp, người bào chữa; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người đại diện hợp pháp;
  • - Lưu HS-VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trương Thị Gái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 19/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẨM PHẢ, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Đức D cùng đồng phạm gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger