Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/DS-ST

Ngày: 17/5/2024

V/v Tranh chấp di sản thừa

kế quyền sử dụng đất

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH - BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Hạnh.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Minh Tân.

Ông Trần Văn Tiền.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Đình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: Bà Phạm Linh Duy - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13 và 17 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 107/2020/TLST-DS ngày 14 tháng 4 năm 2020 về việc: “ Tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

  1. Bà Trương Thị H, sinh năm: 1954
  2. Địa chỉ: ấp Phước Trạch, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

  3. Bà Trương Thị T, sinh năm: 1960
  4. Địa chỉ: Khu phố D, phường U, thị xã T, tỉnh Bình Dương

  5. Trương Thị Xuân H1, sinh năm: 1976
  6. Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm: 1994; Địa chỉ: ấp M, M, thành phố B, tỉnh Bến Tre

* Bị đơn:

  1. Ông Trương Thành M, sinh năm: 1967
  2. Địa chỉ: ấp Phước Định, xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre

  3. Ông Trương Văn T1, sinh năm: 1957
  4. Ông Trương Văn S, sinh năm: 1963
  5. Ông Trương Minh M1, sinh năm: 1961
  6. Ông Trương Thanh T2, sinh năm: 1978
  7. Ông Trương Thành T3, sinh năm: 1970
  8. Đc: ấp Phú Thạnh, xã Phước Thạnh, Châu Thành, tỉnh Bến Tre

  9. Ông Trương Thành T4, sinh năm: 1973
  10. Địa chỉ: ấp H, xã C, huyện B, tỉnh Bến Tre

Ông Đ, ông M có mặt tại phiên tòa. Ông T2 vắng mặt tại phiên tòa.

Ông S, ông T1, ông M1, ông T4, ông T3 có yêu cầu giải quyết vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 20/8/2020, đơn thay đổi đơn khởi kiện ngày 23/3/2021 và những lời khai tiếp theo, cũng như tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Cha mẹ của bà H, bà T, bà H1 là ông Trương Văn G, sinh năm: 1930, mất năm: 2014 và mẹ là bà Trần Thị K, sinh năm: 1932, mất năm: 2016, sinh thời ông G và bà K có tất cả là 10 người con, gồm: bà Trương Thị H, bà Trương Thị T, bà Trương Thị Xuân H1, ông Trương Văn T1, ông Trương Minh M1, ông Trương Văn S, ông Trương Thành M, ông Trương Thành T3, ông Trương Thành T4 và ông Trương Thanh T2. Khi còn sống ông G và bà K có tạo lập được khối tài sản là 03 phần đất cụ thể như sau:

Phần đất có diện tích khoảng 2.487 m², thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Phần đất có diện tích khoảng 4.839 m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Phần đất có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Trên phần đất này có 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích nền khoảng 180 m² và một phần thổ mộ khoảng 40 m².

Ngày 26/6/2014 (âm lịch) các anh em trong gia đình cùng cha mẹ là ông G, bà K họp lại để phân chia tài sản của cha mẹ cho từng người để sau này khỏi tranh chấp (Khi tiến hành họp anh em và cha mẹ thì không có lập biên bản). Tại đây, tất cả mọi người đều đồng ý chọn phương pháp phân chia 03 phần đất trên thành 10 phần và sau đó bốc thăm, người nào trúng phần nào thì nhận phần đất đó, sau này không tranh chấp, khiếu nại gì. Cụ thể 03 phần đất được chia thành 10 phần cụ thể như sau: Phần đất (1) có diện tích khoảng 2.487 m² thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 11 chia làm 02 phần; Phần đất (2) có diện tích khoảng 4.839 m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 12, chia làm 05 phần; Phần đất (3) có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12, bao gồm nhà cấp 4 chia làm 03 phần. Sau khi bốc thăm kết quả như sau: Phần đất (1) chia cho ông T3 và ông T4; Phần đất thứ (2) chia cho ông T2, ông M, ông S, ông M1 và ông T1; Phần đất (3) chia cho là bà T, bà H, bà H1. Tất cả anh em và cha, mẹ đều đồng ý với việc phân chia này. Sau đó từng người canh tác trên phần đất đã phân chia.

Khi cha, mẹ các nguyên đơn lần lượt qua đời, không để lại di chúc, khoảng đầu năm 2016 các anh, chị, em của các nguyên đơn có yêu cầu địa chính xuống đo đạc, cấm trụ mốc ranh giới từng người để hoàn thành việc cấp sổ đỏ. Thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11 và thửa số 03, tờ bản đồ số 12 đã đo đạc và cấm mốc xong. Đến phần đất của bà H, bà T và bà H1 thì phía các bị đơn yêu cầu giao lại ngôi nhà cấp 4 và khoảng 1.000 m² đất giáp lộ trên phần đất đã chia cho bà H, bà T và bà H1, phần đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12 với lý do là các nguyên đơn là con gái nên không có quyền thờ cúng cha mẹ và đất là đất hương quả nên giao cho các anh em trai. Nếu đồng ý với phương án chia trên thì bà H, bà T và bà H1 phải ở phần đất phía sau không có đường đi vào để canh tác. Sau đó anh, chị, em đã họp nhiều lần để thỏa thuận lại việc này, nhưng giữa các bên chưa có tiếng nói chung, nên việc phân chia di sản gặp khó khăn. Bên nguyên đơn cho rằng yêu cầu của các anh em trai là không đúng với thỏa thuận trước đây của các anh chị em và trái với nguyện vọng của cha mẹ lúc sinh thời.

Thực tế trên phần đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12 các nguyên đơn tiến hành cải tạo phần đất, lên líp và trồng khoảng 60 gốc bưởi da xanh, 60 gốc cam sành và 20 gốc dừa trên phần đất được chia. Hiện nay bà H, bà T và bà H1 vẫn canh tác trên phần đất này. Còn 02 phần đất còn lại các anh, em tự chia và mỗi người canh tác riêng từ năm 2016. Riêng ông Trương Thành T3 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất đã chia cho ông Trương Thành T4 và ông Trương Thanh T2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất đã chia cho ông Trương Văn T1. Năm 2018, gia đình ông T2 có về ở trên căn nhà của cha, mẹ nằm trên phần đất của nguyên đơn.

Vì lẽ đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của ông G, bà K để lại đối với 03 phần đất: Phần đất có diện tích khoảng 2.487 m² thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 11; Phần đất có diện tích khoảng 4.839 m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 12; Phần đất có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12, tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, cho các anh chị em của bà H, bà T và bà H1. Cụ thể là chia cho 3 chị em bà H, bà T và bà Hoàng p đất như trước đó thỏa thuận là phần đất có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12. Bà H, bà T, bà H1 yêu cầu mỗi người được nhận diện tích khoảng 1.225,9 m² đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12.

Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện, do nguyên đơn không biết ranh đất của 02 phần đất thửa số 22, tờ bản đồ số 11 và thửa số 03, tờ bản đồ số 12. Và để thể hiện thiện chí của nguyên đơn và mong muốn anh chị em trong gia đình được hòa thuận nên nguyên đơn thay đổi một phần nội dung yêu cầu khởi kiện. Nguyên đơn đồng ý để lại phần đất thuộc các thửa 14-4 đến 14-10 theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất do văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp vào ngày 06/10/2022 làm di sản thờ cúng, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12 (sau khi trừ đi di sản thờ cúng) cho đồng nguyên đơn, các thửa đất khác đồng ý ký tên để các anh chị em được đứng tên sổ không tranh chấp và không có yêu cầu chia thừa kế. Trong phần đất nguyên đơn yêu cầu được nhận tại thửa 14-1 có diện tích 2.528,8 m², yêu cầu trong đó có 150 m² đất thổ cư.

* Theo biên bản làm việc và những lời khai tiếp theo trong quá trình tổ tụng, cũng như tại phiên tòa bị đơn ông Trương Thành M trình bày:

Ông thống nhất ý kiến trình bày của nguyên đơn về quan hệ gia đình, hàng thừa kế, và di sản thừa kế do cha mẹ ông để lại. Cha mẹ ông chết không để lại di chúc và sinh thời khi cha mẹ còn sống thì có tiến hành họp gia đình để phân chia di sản thừa kế cho tất cả các anh chị em của ông. Ông thống nhất phần đất thứ 01 và phần đất thứ 02 chia như nguyên đơn trình bày là đúng. Còn phần đất thứa 03 thì chia cho các nguyên đơn sau khi trừ đi phần nhà và mộ để làm di sản thờ cúng, còn lại bao nhiêu thì chia đều cho các nguyên đơn. Nay qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông yêu cầu trừ lại phần đất có nhà và mộ trên đất để làm di sản thừa cúng còn lại thì các nguyên đơn có yêu cầu chia cho các nguyên đơn thì ông không có ý kiến gì.

* Theo biên bản hòa giải và những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Trương Thành T4 trình bày:

Về quan hệ gia đình và hàng thừa kế ông thống nhất như các nguyên đơn trình bày là đúng. Ngoài 10 anh chị em của ông thì không còn ai thuộc hàng thừa kế của ông G, bà K. Về di sản thừa kế của cha mẹ ông để lại ông thống nhất như nguyên đơn trình bày. Cha mẹ ông chết không để lại di chúc. Theo ông thì trước khi cha mẹ ông chết có họp gia đình vào ngày 26/6/2014 (âm lịch), không có lập biên bản. Nội dung phân chia di sản cho các anh chị em của ông theo hình thức bốc thăm để chia tài sản. Kết quả bốc thăm: Phần đất (1) chia cho ông T3 và ông T4; Phần đất thứ (2) chia cho ông T2, ông M, ông S, ông M1 và ông T1; Phần đất (3) chia cho là bà T, bà H, bà H1. Tuy nhiên, gia đình thống nhất để lại phần đất có nhà và mộ của cha mẹ để làm di sản thờ cúng hoặc sau này con cháu nào khó khăn thì về đây ở, còn lại bao nhiêu mới chia đều cho 03 nguyên đơn là bà H1, bà H, bà T. Vào khoảng năm 2015 các nguyên đơn đã vô phần đất canh tác, lên líp trồng dừa, bưởi. Hiện tại các anh em ông đã vào nhận đất canh tác theo đúng như thỏa thuận tại phiên họp gia đình ngày 26/6/2014 nhưng chưa làm sổ đỏ được do 03 nguyên đơn không đồng ý chừa lại phần đất có nhà và mộ. Qua yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì ông T4 yêu cầu chừa lại phần đất có nhà và mộ, còn lại bao nhiêu thì giao cho các nguyên đơn theo đúng thỏa thuận của phiên họp gia đình. Phần có nhà, mộ này là của tất cả các anh chị em ông. Ông T4 yêu cầu để cho ông, ông M, ông T2 quản lý, bảo quản, còn việc thờ cúng tổ tiên, tu sửa nhà thì do tất cả các anh em ông cùng làm.

* Theo biên bản hòa giải và những lời khai tiếp theo trong quá trình tố tụng, bị đơn ông Trương Văn T1, Trương Minh M1, Trương Văn S, Trương Thành T3, Trương Thanh T2 trình bày:

Thống nhất với ý kiến trình bày của ông T4. Các ông đồng ý trừ đi phần nhà và mộ để làm di sản thờ cúng, hoặc sau này con cháu nào khó khăn thì về đây ở, còn lại bao nhiêu mới chia đều cho 03 nguyên đơn là bà H1, bà H, bà T. Các ông xác định không có tranh chấp gì nên không đồng ý đến Tòa.

Phát biểu của kiểm sát viên tại phiên tòa:

Về tố tụng: Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử tiến hành các hoạt động tố tụng theo đúng quy định chung về phiên tòa sơ thẩm: thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng... Thư ký phiên tòa đã thực hiện các công việc chuẩn bị khai mạc phiên tòa và các nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo đúng quy định.

Người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của BLTTDS

Về nội dung: Đề nghị HĐXX áp dụng Điều 3, 612, 613 Bộ luật Dân sự năm 2015

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Chia thửa đất số 74, 75, tờ bản đồ số 2 (nay là thửa số 14, tờ bản đồ số 12) tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre đứng tên ông Trương Văn G ba phần bằng nhau. Bà Trương Thị H, bà Trương Thị T, bà Trương Thị Xuân H1 mỗi người được nhận 1 phần, sau khi trừ phần diện tích tại các thửa 14-4 đến 14-10 là di sản thờ cúng.

Án phí: Đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng, loại tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Bà Trương Thị H, Trương Thị T và Trương Thị Xuân H1 khởi kiện chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất với ông ông Trương Thành M, ông Trương T5, ông Trương Văn S, ông Trương Minh M1, ông Trương Văn T1, ông Trương Thành T3, ông Trương Thanh T2, tài sản tranh chấp tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Căn cứ khoản 5 Điều 26, khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự thì xác định đây là tranh chấp chia di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

[2] Ông S, ông M1, ông T1, ông T4, ông T3, đều xin được vắng mặt tại phiên tòa; anh T2 được Tòa án triệu tập hợp lệ mà vẫn vắng mặt. Vì vậy Tòa án mở phiên tòa xét xử vắng mặt bị đơn phù hợp quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[3] Về thời hiệu khởi kiện và người thừa kế: Các đương sự đều khai thống nhất cụ Trương Văn G, sinh năm: 1930, mất năm: 2014 và mẹ là cụ Trần Thị K, sinh năm: 1932, mất năm: 2016. Cha mẹ nguyên đơn chết không để lại di chúc. Căn cứ Điều 623 của Bộ luật dân sự thì thời hiệu khởi kiện vẫn còn. Các đương sự đều khai thống nhất về diện thừa kế và hàng thừa kế di sản của cụ G và cụ K là 10 người con, căn cứ Điều 651 của Bộ luật Dân sự, cần xác định người thừa kế di sản của cụ G và cụ K thuộc hàng thừa kế thứ nhất gồm bà Trương Thị H, ông Trương Văn T1, bà Trương Thị T, ông Trương Minh M1, ông Trương Văn S, ông Trương Thành M, ông Trương Thành T3, ông Trương Thành T4, bà Trương Thị Xuân H1 và ông Trương Thanh T2.

[4] Về di sản thừa kế là quyền sử dụng đất có tranh chấp:

Cha mẹ của Bà H, bà T, bà H1 là cụ Trương Văn G, sinh năm: 1930, mất năm: 2014 và cụ Trần Thị K, sinh năm: 1932, mất năm: 2016, sinh thời có 10 người con, gồm: bà Trương Thị H, ông Trương Văn T1, bà Trương Thị T, ông Trương Minh M1, ông Trương Văn S, ông Trương Thành M, ông Trương Thành T3, ông Trương Thành T4, bà Trương Thị Xuân H1 và ông Trương Thanh T2.

Khi còn sống cha mẹ bà H, bà T, bà H1 có tạo lập được khối tài sản gồm 03 phần đất, cụ thể như sau: Phần đất (1)có diện tích khoảng 2.487 m² thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 11. Phần đất (2) có diện tích khoảng 4.839 m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 12 và phần đất (3) có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12. Tất cả các phần đất trên đều tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre. Trên phần đất này có 01 ngôi nhà cấp 4, diện tích nền khoảng 180 m² và một phần thổ mộ khoảng 40 m².

Ngày 26/6/2014 (âm lịch) khi cha mẹ của các nguyên đơn còn sống cùng với các anh em trong gia đình đã tiến hành họp lại để phân chia tài sản của cụ G và cụ K cho từng người để sau này khỏi tranh chấp. Tại đây, tất cả mọi người đều đồng ý chọn phương pháp phân chia 03 phần đất trên thành 10 phần và chọn hình thức phân chia là bốc thăm, người nào trúng phần nào thì nhận phần đất đó, sau này không ai được tranh chấp, khiếu nại gì. Cụ thể 03 phần đất được chia thành 10 phần như sau: Phần đất (1) có diện tích khoảng 2.487 m² thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 11 chia làm 02 phần; Phần đất (2) có diện tích khoảng 4.839 m2 thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 12, chia làm 05 phần; Phần đất (3) có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12, bao gồm nhà cấp 4 chia làm 03 phần. Kết quả bốc thăm cụ thể như sau: Phần đất thứ (1) chia cho ông T3 và ông T4; Phần đất thứ (2) chia cho ông T2, ông M, ông S, ông M1 và ông T1; Phần đất thứ (3) chia cho là bà T, bà H, bà H1. Tất cả anh em và cha, mẹ đều đồng ý với việc phân chia này. Tuy nhiên việc họp phân chia di sản trên không có lập biên bản.

Khi cụ G và cụ K mất, khoảng đầu năm 2016 các anh, chị, em của các nguyên đơn canh tác trên phần đất đã chia trước đó, nhưng chưa đo đạc tách sổ. Nguyên đơn tiến hành cải tạo phần đất, lên líp và trồng khoảng 60 gốc bưởi da xanh, 60 gốc cam sành và 20 gốc dừa trên phần đất được chia. Hiện nay bà H, bà T và bà H1 vẫn canh tác trên phần đất này. Còn 02 phần đất còn lại các anh, em tự chia và mỗi người canh tác riêng từ năm 2016 đến nay. Riêng ông Trương Thành T3 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất đã chia cho ông Trương Thành T4 và ông Trương Thanh T2 đã chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với phần đất đã chia cho ông Trương Văn T1. Năm 2018, gia đình ông T2 có về ở trên căn nhà của cha, mẹ nằm trên phần đất của nguyên đơn. Tuy nhiên, hiện nay ông M1 là người đang ở trên căn nhà của cụ K, và cụ G để lại. Gia đình ông T2 không còn ở trên căn nhà này nữa.

Đầu năm 2019, anh, chị, em bà H, bà T và bà H1 tiến hành đo đạc, cấm trụ mốc ranh giới giữa từng người. Đến phần đất của bà H, bà T và bà H1 thì bên phía bị đơn yêu cầu giao lại ngôi nhà cấp 4 và khoảng 1.000 m² đất giáp lộ trên phần đất đã chia cho bà H, bà T và bà H1, phần đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12 với lý do là các nguyên đơn là con gái nên không có quyền thờ cúng cha mẹ và đất là đất hương quả nên giao cho các anh em trai quản lý. Nếu đồng ý với phương án chia trên thì bà H, bà T và bà H1 phải ở phần đất phía sau không có đường đi vào để canh tác. Sau đó anh, chị, em đã họp nhiều lần để thỏa thuận lại việc này, nhưng không giải quyết được. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất của cụ G, cụ K để lại đối với 03 phần đất: Phần đất có diện tích khoảng 2.487 m² thuộc thửa số 22, tờ bản đồ số 11; Phần đất có diện tích khoảng 4.839 m² thuộc thửa số 03, tờ bản đồ số 12; Phần đất có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12, tất cả các thửa đất trên đều tọa lạc tại xã P, huyện C, tỉnh Bến Tre, chia cho các anh chị em của bà H, bà T và bà H1. Cụ thể là chia cho 3 chị em bà H, bà T và bà Hoàng p đất như trước đó thỏa thuận là phần đất có diện tích khoảng 3.677,9 m² thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12. Bà H, bà T, bà H1 yêu cầu mỗi người được nhận diện tích khoảng 1.225,9 m² đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12.

Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện. Nguyên đơn đồng ý để lại phần đất có nhà cửa, công trúc kiến trúc trên đất làm di sản thờ cúng, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất thuộc thửa số 14, tờ bản đồ số 12 (sau khi trừ đi di sản thờ cúng).

Quá trình giải quyết vụ án phía bị đơn trình bày cũng thống nhất về nhân thân, hàng thừa kế và việc họp thống nhất phân chia tài sản của cha mẹ để lại vào ngày 26/6/2014 âm lịch. Cả nguyên đơn, bị đơn đã nhận phần được chia và vào canh tác đất theo thỏa thuận tại cuộc họp gia đình, nhưng chưa làm sổ riêng. Nhưng do phía nguyên đơn không đồng ý tách riêng phần căn nhà và mộ làm di sản thờ cúng. Khi tiến hành thỏa thuận phân chia tất cả thành viên gia đình thống nhất để riêng phần nhà, mộ, đây là tài sản chung của anh, chị, em, ai có khó khăn thì về căn nhà của cha, mẹ. Do đó phía bị đơn không đồng ý yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị tách riêng phần đất có nhà, mộ; phần đất còn lại thì đồng ý chia thừa kế như thỏa thuận cho phía nguyên đơn.

Theo kết quả đo đạc của Tòa án thì phần đất thuộc thửa 14, tờ bản đồ số 12 bao gồm các thửa như sau: Thửa 14-1 là đất diện tích 2528,8 m², thửa 14-2 là đất diện tích 173,1 m², thửa 14-3 là đất diện tích 125,1m², thửa 14-4 là nhà tắm diện tích 4,6 m², thửa 14-5 là hồ nước diện tích 9,3 m², thửa 14-6 là nhà phụ diện tích 51,8 m², thửa 14-7 là nhà phụ diện tích 15,0 m² thửa 14-8 là nhà chính diện tích 117,9 m², thửa 14-9 là đất diện tích 628,9 m², thửa 14,10 là mộ diện tích là 23,4 m². Nguyên đơn đồng ý trừ phần đất thuộc các thửa 14-4 đến 14-10 diện tích 850.9 m² làm di sản thờ cúng, chỉ yêu cầu Tòa án giải quyết chia di sản thừa kế quyền sử dụng đất phần còn lại của thửa số 14, tờ bản đồ số 12, cụ thể bà H, bà M, bà H1 yêu cầu đứng tên đồng sở hữu đối với thửa 14-1 diện tích 2528,8 m². các thửa đất khác thống nhất theo sự phân chia trước đây, đồng ý để bên phía bị đơn sử dụng và không yêu cầu chia thừa kế. Theo họa đồ hiện trạng sử dụng đất ngày 06/10/2022 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C cung cấp thì thửa đất sô 14, tờ bản đồ số 12 qua đo đạc hiện trạng sử dụng có chênh lệch ranh so với ranh địa chính tại các thửa 14-2 (173.1 m²), 14-3 (125,1 m²); 15-1 (11,2 m²); 15-2 (5.9 m²). Tuy nhiên nguyên đơn không tranh chấp gì.

[5] Các đương sự đều thống nhất : Vào ngày 26/6/2014 có cuộc họp gia đình để tiến hành phân chia tài sản của cha mẹ, khi đó cụ khoe và cụ G còn sống. Tuy không lập thành văn bản nhưng các bên đều thừa nhận phần đất thuộc thửa 14, tờ bản đồ sô 12 cho các nguyên đơn, trước đây các bên không thỏa thuận được việc trừ phần mộ và căn nhà để làm di sản thờ cúng. Tuy nhiên quá trình giải quyết vụ án phía nguyên đơn cũng thống nhất trừ phần đất từ các điểm L, N, F, O có diện tích 850,9 m² làm di sản thờ cúng nhưng phía bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên hòa giải, nên hai bên không thể thỏa thuận được. Xét thấy yêu cầu của nguyên đơn cũng phù hợp với nguyện vọng của bên phía bị đơn. Do đó, nguyên đơn yêu cầu nhận phần đất còn lại thuộc thửa 14-1, tờ bản đồ số 12, trong đó có 150 m² là có cơ sở chấp nhận.

Ghi nhận nguyên đơn không có yêu cầu giải quyết gì đối với 02 thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, đồng ý phân chia cho các bị đơn theo kết quả bốc thăm; Ghi nhận nguyên đơn đồng ý để các thửa 14-4 đến 14-10 làm di sản thờ cúng cho tất cả các anh chị em đồng sở hữu và không có yêu cầu giải quyết gì trong vụ án này.

[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí trên phần tài sản được nhận với số tiền án phí là 109.364.000đồng. Tuy nhiên bà H, bà T đều là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí. Do đó bà H1 còn phải nộp số tiền là 36.454.666đồng.

[7] Về chi phí tố tụng: 11.667.000đồng. Nguyên đơn tự nguyện nộp và không có yêu cầu gì nên được ghi nhận.

[8] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 147, khoản 1, khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 612, Điều 613, Điều 649, Điều 650 và Điều 651 của Bộ luật Dân sự.

Căn cứ Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2014/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà H, bà M, bà H1. Xác định phần đất tại thửa số 14, tờ bản đồ số 12 là di sản thừa kế của cụ G và cụ K.
  2. Chia di sản thừa kế như sau:
    1. Bà H, bà M, bà H1 được chia phần đất có diện tích 2528.8 m² phần đất thuộc thửa 14-1. Bà H, bà T, bà H1 được đồng sở hữu phần đất trên, trên phần 14-1, trong đó có 150 m² đất thổ cư.
    2. (Có họa đồ hiện trạng sử dụng đất kèm theo).

    3. Ghi nhận nguyên đơn không có yêu cầu giải quyết gì đối với 02 thửa đất số 22, tờ bản đồ số 11 và thửa đất số 03, tờ bản đồ số 12, đồng ý phân chia cho các bị đơn theo kết quả bốc thăm; Ghi nhận nguyên đơn đồng ý để các thửa 14-4 đến 14-10 làm di sản thờ cúng cho tất cả các anh chi em đồng sở hữu và không có yêu cầu giải quyết gì trong vụ án này.

Kiến nghị cơ quan có thẩm quyền điều chỉnh, thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 74, 75, tờ bản đồ số 02 mang tên Trương Văn G.

Các bên đương sự được liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

  1. Về chi phí tố tụng: 11.667.000đồng Mười một triệu không trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Nguyên đơn tự nguyện nộp và không có yêu cầu gì nên được ghi nhận.
  2. Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 109.364.000đồng (Một trăm lẻ chín triệu ba trăm sáu mươi bốn nghìn đồng). Tuy nhiên, bà H, bà T đều là người cao tuổi nên được miễn nộp tiền án phí. Do đó bà H1 còn phải nộp số tiền là 36.454.666đồng (Ba mươi sáu triệu bốn trăm năm mươi bốn nghìn đồng sáu trăm sáu mươi sáu đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiên tạm ứng án phí mà bà H1 đã nộp là 7.500.000đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0001478 ngày 08/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành. Bà H1 còn phải nộp số tiền án phí là 28.954.666đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm năm mươi bốn nghìn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).
  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thị Mỹ Hạnh

Đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 36/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp di sản thừa kế quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger