|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc *** |
Bản án số: 36 /2024/DSST
Ngày: 16- 7- 2024
V/v: “Tranh chấp đòi lại QSD đất,
tranh chấp hợp đồng tặng cho QSD đất và
yêu cầu hủy hợp hợp đồng
chuyển nhượng QSD đất”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH,
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hiền
Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thanh Phương
Bà Dương Thị Thúy Hằng
Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Thanh Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Hải Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024 tại Toà án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 96/2023/TLST-DS ngày 20/3/2023,về việc “Tranh chấp đòi quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/QĐXXST – DS ngày 4/6/2024 và Thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số 409/TB-TA ngày 28/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Xóm B, xã K, huyện V, tỉnh Nam Định.
Đại diện theo ủy quyền của ông N: Ông Nông Văn H, sinh năm 1986.
Địa chỉ: ấp A, xã S, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Địa chỉ liên hệ: 495 Hồ T, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1968.
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ lien quan:
Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1944
Địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện theo ủy quyền của bà C: Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1975.
Địa chỉ: ấp H, xã H, TP ., tỉnh Đồng Nai.
Anh Huỳnh Công D, sinh năm 1996.
Anh Huỳnh Công T, sinh năm 2001
Chị Lê Huỳnh M, sinh năm 2004
Cùng địa chỉ: ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai.
( ông H, bà Đ, anh D có mặt, các đương sự khác vắng mặt )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 22/02/2023; các lời khai tiếp theo có tại hồ sơ và tại phiên Tòa Nguyên đơn Trần Văn N có đại diện theo ủy quyền ông Nông Văn H trình bày:
Ông Trần Văn N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12 tại Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai từ bà Nguyễn Thị C theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được Văn phòng C1, tỉnh Đồng Nai chứng nhận ngày 17/01/2022, số công chứng 000469, quyển số 01/2022.TP/CC-SCC/HĐGD.
Ông N đã giao đủ tiền chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị C và đã hoàn thành việc đăng bộ, sang tên quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất nêu trên và được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số DI 835222, số vào sổ cấp GCN: CS14661 ngày 01/12/2022.
Tuy nhiên, khi bà Nguyễn Thị C và ông Trần Văn N tiến hành bàn giao đất và tài sản trên đất tại thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12 tại Xã P thì bà Nguyễn Thị Đ – là con dâu của bà Nguyễn Thị C đang sinh sống tại thửa đất này không đồng ý giao.
Việc ông Trần Văn N nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12 tại Xã P là hợp pháp, hợp đồng chuyển nhượng được công chứng theo quy định và ông Trần Văn N đã được cơ quan có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo đúng trình tự, thủ tục luật định.
Ông Trần Văn N đã nhiều lần yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ giao trả đất và tài sản gắn liền với đất cho tôi nhưng bà Đ không đồng ý thực hiện. Do các bên không thể thương lượng được nên ông Trần Văn N đã yêu cầu Ủy ban nhân dân Xã P tiến hành giải quyết vụ việc nêu trên nhưng các bên không thống nhất hòa giải được với nhau; Bà Đ cho rằng vợ chồng bà được bà Nguyễn Thị C cho ở trên đất từ năm 1996 đến nay nên không đồng ý với việc bà C tự ý chuyển nhượng cho ông Trần Văn N và không chấp nhận giao nhà đất cho ông N (Theo Biên bản hòa giải ngày 05/01/2023 và Thông báo hòa giải không thành ngày 10/01/2023 của Ủy ban nhân dân Xã P).
Vì vậy, về việc giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án xem xét: Yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ giao trả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12 tại Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai cho ông Trần Văn N.
Đối với chứng thư thẩm định giá số 5537/CT-ĐNI ngày 25/12/2023 của Công ty cổ phần T4 và Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 2553/2023 ngày 3/10/2023 của Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- chi Nhánh N1 tôi thống nhất không có ý kiến thắc mắc gì. Đề nghị Tòa án lấy kết quả trên làm căn cứ giải quyết vụ án. Nếu phía bà Đ đồng ý hòa giải thì phía ông N đưa ra 2 phương án: Một là ông N giao cho bà Đ 400.000.000đ thì bà Đ và các con phải giao nhà đất cho ông N. Hai là phía bà Đ muốn giữ nhà thì bà Đ phải thanh toán lại cho ông N số tiền 1.200.000.000₫.
* Tại đơn khởi kiện phản tố đề ngày 16/5/2024 và các lời khai có trong hồ sơ Bị đơn Nguyễn Thị Đ trình bày:
Bà là vợ của ông Huỳnh Văn Ú, sinh năm 1973 (mất năm 2019), ông Ú là con của bà Nguyễn Thị C.
N vào năm khoảng năm 1996 bà và ông Ú được mẹ ruột của ông Ú là bà Nguyễn T1 Còn cho 01 diện tích đất có diện tích đất nay là thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai. Khi được cho đất thì bà và ông Ú đã xây dựng nhà từ năm 1996 và sửa chữa nhiều lần, sinh sống ổn định đến ngày nay.
Vì là người trong gia đình nên khi cho thì không lập giấy tờ gì, thời điểm sau này vợ, chồng bà có nói với bà Nguyễn Thị C về việc sang tên cho vợ, chồng bà, lúc này bà C xác nhận là đất của vợ chồng bà và nói đất của vợ, chồng nhà bà thì không ai lấy được nên cần gì phải làm gấp. Vì là người trong gia đình nên vợ, chồng bà hoàn toàn tin tưởng nên cũng không vội gì.
Gần đây thì theo bà được biết bà C có vay nợ người khác, cụ thể là vay ông Trần Văn N, số tiền bao nhiêu thì bà không nắm rõ. Đến khi ông N đưa người vào đòi lấy nhà và đất của gia đình bà thì bà mới biết là bà C dùng diện tích đất của gia đình bà để cầm cố cho ông N bằng hình thức chuyển nhượng.
Nay ông N khởi kiện bà không đồng ý, vì diện tích đất nói trên là của gia đình bà, bà C không có quyền đứng ra giao dịch đối với diện tích đất nói trên. Bà có yêu cầu phản tố đề nghị Tòa án giải quyết:
- Công nhận hợp đồng tặng cho QSD đất giữa bà Đ và bà Nguyễn Thị C đối với diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P. Bà Đ được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên QSD đất nói trên cho bà Đ theo quy định.
- Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Nguyễn Thị C và ông Trần Văn N đối với diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P.
Đối với chứng thư thẩm định giá số 5537/CT-ĐNI ngày 25/12/2023 của Công ty cổ phần T4 và Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 2553/2023 ngày 3/10/2023 của Văn Phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ- chi Nhánh N1 không có ý kiến thắc mắc gì. Đề nghị Tòa án lấy kết quả trên làm căn cứ giải quyết vụ án.
Hiện nay bà cùng các con và cháu ở trên đất gồm: con ruột Huỳnh Công D, sinh năm 1996, Huỳnh Công T, sinh năm 2001, cháu nội tên Huỳnh Trí T2, sinh năm 2022 ( con của Huỳnh Công T ), Con dâu tên Lê Huỳnh M, sinh năm 2004.
Bà không đồng ý nhận 400.000.000đ từ ông N. Bà đồng ý giao cho ông N 800.000.000₫ với điều kiện ông N phải sang tên sổ đỏ cho bà và con bà, để con bà thế chấp đi vay tiền mới có tiền trả cho ông N.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Công D trình bày:
Anh là con ruột của bà Nguyễn Thị Đ, ông Huỳnh Văn Ú (chết năm 2019). Hiện nay anh đang sống chung nhà với bà Đ. Nay anh thống nhất toàn bộ lời trình bày của bà Đ, không có ý kiến thắc mắc bổ sung. Anh không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đ.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Công T, chị Lê Huỳnh M trình bày:
Anh chị là con ruột và con dâu của bà Nguyễn Thị Đ, ông Huỳnh Văn Ú ( chết năm 2019 ). Hiện nay anh chị đang sống chung nhà với bà Đ. nay anh chị thống nhất toàn bộ lời trình bày của bà Đ, không có ý kiến thắc mắc bổ sung. Anh chị không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đ.
Do bận công việc, đi lại khó khăn nên anh chị xin phép được vắng mặt tại tòa trong tất cả các buổi làm việc, hòa giải và kể cả khi xét xử.
* Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán, HĐXX và người tham gia tố tụng là đúng quy định. Về việc thu thập chứng cứ Tòa án thu thập chứng cứ đã thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật. Về thời hạn đưa vụ án ra xét xử là có vi phạm cần khắc phục.
- Về đường lối xét xử:
+ Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Tại phiên Tòa bị đơn đồng ý giao trả diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P và căn nhà cấp 4 trên đất. Phía nguyên đơn đồng ý hỗ trợ cho bị đơn số tiền 420.000.00đ, sau khi giao nhà và đất cho nguyên đơn nên đề nghị HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của các bên, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
+ Đối với yêu cầu khởi kiện phản tố của bị đơn: Tại phiên tòa bị đơn rút yêu cầu khởi kiện phản tố nên đề nghị HĐXX đình chỉ yêu cầu khởi kiện phản tố theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[ 1 ] Về thẩm quyền: Xét đơn khởi kiện của ông Trần Văn N là đúng trình tự thủ tục, thuộc thẩm quyền của Tòa án nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
[ 2 ] Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị C có đại diện theo ủy quyền ông Nguyễn Văn H1, anh Huỳnh Công T, chị Lê Huỳnh M có yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào Điều 228 BLTTDS Hội đồng xét xử tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung. Đối với bà Trần Thị T3 có văn bản thỏa thuận v/v cam kết tài sản riêng và xác định tiền mua đất là tài sản riêng của ông N, đất tranh chấp cũng là tài sản riêng của ông N, bà không có bất cứ quyền hay nghĩa vụ liên quan nào, do đó việc giải quyết vụ án nêu trên bà không có liên quan và không có ý kiến gì. Vì vậy không cần thiết phải đưa bà T3 vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là phù hợp với quy định của pháp luật.
[ 3] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn ông Trần Văn N khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Đ giao trả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12 tại Xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai cho ông Trần Văn N. Bị đơn bà Nguyễn Thị Đ có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận hợp đồng tặng cho QSD đất giữa bà Đ và bà Nguyễn Thị C đối với diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P. Bà Đ được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên QSD đất nói trên cho bà Đ theo quy định. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Nguyễn Thị C và ông Trần Văn N đối với diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P nên quan hệ tranh chấp được xác định lại là “ Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ”.
Tại phiên Tòa bà Nguyễn Thị Đ tự nguyện rút yêu cầu phản tố nên Hội đồng xét xử sẽ đình chỉ yêu cầu này.
[ 4 ] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Trần Văn N thì thấy:
{ 4.1.1}. Về nguồn gốc đất đang tranh chấp: Diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P. UBND huyện N đã cấp giấy chứng nhận QSD đất cho hộ bà Nguyễn Thị C ngày 4/11/1999, theo Đơn xin cấp giấy chứng nhận QSD đất ngày 29/10/1998 của bà Nguyễn Thị C là do ông bà để lại cho .Ngày 1/8/2008 bà Nguyễn Thị C làm đơn xin cấp lại, cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất và đến ngày 3/10/2010 bà C được UBND huyện N cấp giấy chứng nhận QSD đất số BD488467 với Diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P. Theo ông N đất trên do nhận chuyển nhượng từ bà C và theo bà Đ thì đất trên do bà C cho lại từ năm 1996. Như vậy nguồn gốc đất hai bên thừa nhận là của bà C.
{ 4.1.2} . Quá trình quản lý, chuyển dịch quyền sử dụng đất:
Ngày 17/1/2022 bà Nguyễn Thị C có ký giấy chuyển quyền sử dụng đất cho ông Trần Văn N Diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P do Văn phòng C1. Đến ngày 1/12/2022 ông N được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ cấp giấy chứng nhận QSD đất số DI83522.
Từ khi ông N nhận chuyển nhượng đất thì diện tích đất trên vẫn do gia đình Nguyễn Thị Đ quản lý sử dụng cho đến nay.
{4.1.3}. Quá trình giải quyết vụ án:
- Ông N khởi kiện cho rằng đã nhận chuyển nhượng diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P từ bà Nguyễn Thị C năm 2022. Nhưng theo bà Nguyễn Thị Đ thì diện tích đất trên là do bà Nguyễn Thị C cho vợ chồng bà từ năm 1996, vợ chồng bà đã cất nhà ở trên đất từ năm 1996 nhưng chưa làm thủ tục sang tên. Theo bà Đ thì bà C ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông N là để bảo đảm cho việc vay tiền của ông N. Nhưng tại hồ sơ ông Nguyễn Văn H1 là đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị C cho rằng chỉ cho bà Nguyễn Thị Đ ở nhờ chứ không có cho luôn và thừa nhận đã chuyển nhượng đất trên cho ông N. Phía bà Đ cho rằng phần đất trên bà C đã cho bà từ năm 1996, chỉ nói miệng không làm giấy tờ gì, nhưng phía bà C thì cho rằng chỉ cho bà ở nhờ. Từ năm 1999 bà Nguyễn Thị C đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên. Đến năm 2008 bà C có làm đơn xin cấp đổi QSD đất và năm 2011 thì được cấp đổi giấy chứng nhận QSD đất đối với diện tích đất 128m² đang tranh chấp nhưng phía bà Đ, ông Ú ( chồng bà Đ khi còn sống ) cũng không có thắc mắc khiếu nại hay tranh chấp gì về việc bà C được cấp giấy chứng nhận QSD đất nêu trên. Qua đó cho thấy phần đất tranh chấp bà C chỉ cho vợ chồng bà đẹp cất nhà ở nhờ chứ không cho đứt đoạn. Việc ông Trần Văn N khi nhận chuyển nhượng không tìm hiểu xác định người trực tiếp đang quản lý sử dụng là có thiếu xót, nhưng như đã phân tích trên thì bà C chỉ cho bà Đ ở nhờ, đất trên do bà C đứng tên giấy chứng nhận QSD đất nên bà C có quyền chuyển nhượng lại cho người khác, cụ thể là có quyền chuyển nhượng cho ông Trần Văn N. Ông N hiện đang đứng tên giấy chứng nhận QSD đất nên có quyền yêu cầu bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả lại đất. Do đó yêu cầu khởi kiện của ông N là có cơ sở chấp nhận. Do đó bà Đ phải có nghĩa vụ giao trả đất cho ông N, trên đất có căn nhà cấp 4 do bà đẹp xây dựng nên ông N phải thanh toán lại giá trị căn nhà cho bà Đ. Tuy nhiên tại phiên Tòa đại diện theo ủy quyền của ông N đồng ý hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 420.000.000đ ( bốn trăm hai mươi triệu đồng ) và ông N tự nguyện chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định nếu bà Đ đồng ý giao trả diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P cho ông N, Phía bà Đ cũng đồng ý giao trả diện tích đất 128m² có căn nhà trên đất, thuộc thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P cho ông N. Do đó cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông N buộc bà Đ phải giao trả diện tích đất 128m² có căn nhà trên đất, thuộc thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P cho ông N và ghi nhận sự tự nguyện của ông N bà Đ đồng ý hỗ trợ bà Nguyễn Thị Đ số tiền 420.000.000₫
* Xét đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp với nhận định trên nên chấp nhận.
[6]. Về án phí:
- Ông N tự nguyện chịu 20.800.000đ ( giá ngạch 420.000.000đ) và 300.000đ án phí không có giá ngạch. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ ông N đã nộp tại biên lai thu tiền số 0009997 ngày 9/3/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Ông N còn phải nộp tiếp 20.800.000₫
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001657 ngày 10/7/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
*Về chi phí tố tụng:
- Về chi phí đo vẽ: Ông N tự nguyện chịu 1.034.000đ (đã nộp xong)
- Về chí phí thẩm định giá tài sản: ông N tự nguyện chịu 25.726.000đ (đã nộp xong)
- Về lệ phí thu thập tài liệu: Ông N tự nguyện chịu 248.000đ (đã nộp xong )
Vì những lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 144, 147, 220, 228, 266, 267 BLTTDS 2015.
Áp dụng Điều 332, Điều 500, Điều 582 BLDS năm 2015; Luật đất đai 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 về án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Đình chỉ yêu cầu phản tố của bà Nguyễn Thị Đ v/v: “ Yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận hợp đồng tặng cho QSD đất giữa bà Đ và bà Nguyễn Thị C đối với diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P. Bà Đ được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên QSD đất nói trên cho bà Đ theo quy định. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Nguyễn Thị C và ông Trần Văn N đối với diện tích đất 128m², thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P” đối với nguyên đơn ông Trần Văn N.
2. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn N về việc: “ Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất ” đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Đ.
Buộc bà Nguyễn Thị Đ phải giao trả cho ông Trần Văn N diện tích đất 128m² có căn nhà trên đất thuộc thửa 211, tờ bản đồ 12, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai; được giới hạn bởi các mốc: ( 1, 2,3,4,1 ) theo Trích lục và biên vẽ thửa đất bản đồ địa chính số 2553/2023 ngày 3/10/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh N1 và Chứng thư thẩm định giá số 5537/CT-ĐNI ngày 25/12/2023 của Công ty cổ phần T4.
- Ghi nhận sự tự nguyện của ông N đồng ý hỗ trợ cho bà Nguyễn Thị Đ số tiền 420.000.000đ, sau khi bà Đ giao trả nhà đất.
3. Về án phí: Ông N tự nguyện chịu 20.800.000đ ( giá ngạch 420.000.000₫ ) và 300.000đ án phí không có giá ngạch. Nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ ông N đã nộp tại biên lai thu tiền số 0009997 ngày 9/3/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch. Ông N còn phải nộp tiếp 20.800.000đ.
- Trả lại cho bà Nguyễn Thị Đ 300.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tiền số 0001657 ngày 10/7/2023 của chi cục thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch.
*Về chi phí tố tụng:
- Về chi phí đo vẽ: Ông N tự nguyện chịu 1.034.000đ (đã nộp xong)
- Về chí phí thẩm định giá tài sản: ông N tự nguyện chịu 25.726.000đ (đã nộp xong)
- Về lệ phí thu thập tài liệu: Ông N tự nguyện chịu 248.000đ (đã nộp xong )
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 02 Điều 357 Bộ luật dân sự 2015.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
Báo cho các đương sự có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đặng Đình Hiền |
Bản án số 36/2024/DSST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp đòi lại qsd đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho qsd đất và yêu cầu hủy hợp hợp đồng chuyển nhượng qsd đất
- Số bản án: 36/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại QSD đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho QSD đất và yêu cầu hủy hợp hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn ông Trần Văn Nguyên khởi kiện yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị Đẹp giao trả quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 211, tờ bản đồ số 12 tại Xã Phước Thiền, huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai cho ông Trần Văn Nguyên. Bị đơn bà Nguyễn Thị Đẹp có yêu cầu phản tố yêu cầu Tòa án giải quyết: Công nhận hợp đồng tặng cho QSD đất giữa bà Đẹp và bà Nguyễn Thị Còn đối với diện tích đất 128m2, thửa 211, tờ bản đồ 12, xã Phước Thiền. Bà Đẹp được quyền liên hệ cơ quan nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục đăng ký biến động sang tên QSD đất nói trên cho bà Đẹp theo quy định. Hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà Nguyễn Thị Còn và ông Trần Văn Nguyên đối với diện tích đất 128m2, thửa 211, tờ bản đồ 12, xã Phước Thiền nên quan hệ tranh chấp được xác định lại là “ Tranh chấp đòi lại quyền sử dụng đất, tranh chấp hợp đồng tặng cho, hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
