Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN BIÊN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 16-7-2024.

V/v tranh chấp ly hôn.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Oanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Hồng Trang.
  2. Ông Trần Chí Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trúc Linh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 325/2023/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 12 năm 2023 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 06 năm 2024 giữa các đương sự:

  • 1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị H, sinh năm 1970; cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
  • 2. Bị đơn: Ông Nguyễn Phi S, sinh năm 1969; cư trú tại: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 14 tháng 12 năm 2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Bùi Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Bà và ông Nguyễn Phi S tự nguyện chung sống vợ chồng với nhau năm 1989 có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc, nhưng từ năm 1994, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn do ông S thường xuyên chơi cờ bạc, không chăm lo cho gia đình, đến năm 2023 ông S đã yêu cầu bán nhà chia tài sản và vợ chồng không còn chung sống từ tháng 5/2023. Nay bà yêu cầu ly hôn với ông S.

Về con chung: Bà và ông S có 02 con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/4/1991 và Nguyễn Phi N, sinh ngày 16/8/1993. Các con chung đã thành niên nên bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà H không yêu cầu giải quyết.

Tại biên bản ghi lời khai ngày 10/4/2024, bị đơn ông Nguyễn Phi S trình bày: Ông S không có ý kiến gì đối với yêu cầu khởi kiện của bà H, đề nghị Tòa án giải quyết yêu cầu khởi kiện của bà H theo quy định pháp luật.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

  • Bà Bùi Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt.
  • Ông Nguyễn Phi S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát trình bày:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thủ tục thụ lý, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã đảm bảo tuân thủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn ly hôn của bà Bùi Thị H, bà H được ly hôn với ông Nguyễn Phi S. Về con chung: 02 con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/4/1991 và Nguyễn Phi N, sinh ngày 16/8/1993 đã trên 18 tuổi, bà H không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung và nợ chung: bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về án phí: bà H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về tố tụng: Bà Bùi Thị H có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, ông Nguyễn Phi S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H, ông S.
  2. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị H và ông Nguyễn Phi S tự nguyện chung sống với nhau vào năm 1989, có đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh vào ngày 20/3/1989. Xét thấy, đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận.

    Bà H yêu cầu được ly hôn với ông S vì lý do trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, xuất phát từ việc ông S không chăm lo cho gia đình mà thường xuyên tham gia đánh bạc ảnh hưởng đến kinh tế trong gia đình, bà và gia đình đã nhiều lần khuyên nhủ, tạo điều kiện cho ông S sửa chữa khuyết điểm nhưng ông S không thay đổi, ông bà đã phải bán nhà từ năm 2023 và không còn chung sống từ đó đến nay được thể hiện qua việc xác minh của Tòa án tại địa phương nơi ông bà chung sống, do đó lời trình bày của bà H là có cơ sở. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông S đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên chấp nhận yêu cầu của bà H được ly hôn với ông S theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.

    Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ ông Nguyễn Phi S để giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn; thu thập, cung cấp, giao nộp cho Tòa án tài liệu, chứng cứ; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông S từ chối trình bày ý kiến và vắng mặt không có lý do. Ông S có nghĩa vụ đưa ra chứng cứ chứng minh nhưng không đưa ra được chứng cứ. Căn cứ khoản 2, khoản 4 Điều 91; Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án đã thu thập được có trong hồ sơ để giải quyết vụ việc dân sự. Ông Nguyễn Phi S phải chịu hậu quả pháp lý về việc không giao nộp đầy đủ chứng cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

  3. Về con chung: Bà Bùi Thị H và ông Nguyễn Phi S có hai con chung tên Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/4/1991 và Nguyễn Phi N, sinh ngày 16/8/1993. Hai con chung đã thành niên, bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị H không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
  5. Về án phí: Bà Bùi Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  6. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Bùi Thị H đối với ông Nguyễn Phi S về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”.

  1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị H được ly hôn với ông Nguyễn Phi S.
  2. Về con chung: Cháu Nguyễn Thị Thùy D, sinh ngày 18/4/1991 và Nguyễn Phi N, sinh ngày 16/8/1993 đã thành niên, bà H không yêu cầu giải quyết.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà Bùi Thị H không yêu cầu giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Bùi Thị H phải chịu án dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0004624 ngày 15 tháng 12 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh. Ghi nhận bà Bùi Thị H đã nộp đủ tiền án phí.
  5. Quyền kháng cáo: Bà Bùi Thị H và ông Nguyễn Phi S vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV-THA.TAT;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND huyện Tân Biên;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Biên;
  • - UBND xã Thanh Bình, huyện Tân Biên TN;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Oanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN BIÊN, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ok
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger