Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHỢ MỚI

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 15 tháng 5 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền; Bà Đào Thị Thu Vân.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Toà án nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phước Lợi - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 40/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

Võ Thị N, sinh năm 1977; nơi sinh: huyện C, tỉnh An Giang; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: mua bán; trình độ văn hóa (học vấn): 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn B (đã chết) và bà Nguyễn Thị Kim E, sinh năm 1942; chồng Lê Minh T, sinh năm 1982, có 02 người con. Tiền án: không; Tiền sự: không; bị cáo bị tạm giam từ ngày 25/12/2023 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện C (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Thị Q, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

Nguyễn Thị L, sinh năm 1964; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

Phạm Thị Tuyết M, sinh năm 1962; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

Võ Văn Q1, sinh năm 1980; nơi cư trú: ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

Tống Văn Bình A, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp H, xã K, huyện C, tỉnh An Giang. Vắng mặt.

2

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an xã K kiểm tra bắt quả tang Võ Thị N có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua bằng tiền tại nhà của N thuộc ấp K, xã K.

Vật chứng thu giữ: 01 cây viết mực màu đỏ; 01 quyền tập học sinh có ghi 02 phơi đề ngày 25/12/2023 tổng số tiền của 02 phơi đề là 6.360.000đ, 11 miếng giấy (tập học sinh) cắt nhỏ và số tiền 7.827.000₫.

Quá trình điều tra xác định: Ngày 25/12/2023, N bán số lô, số đề được thua bằng tiền cho 6 người gồm: Lê Thị Q, Phạm Thị L1, Phạm Thị Tuyết M và 03 người khác (không rõ họ tên địa chỉ) với hình thức mua lô A (kết quả giải tám xổ số kiến thiết đài Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau), bao lô (02 số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt xổ số kiến thiết đài Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau). Cụ thể Lê Thị Q2 mua số lô A (đài Đ), số 44 với số tiền 20.000đ; Phạm Thị L1 mua số lô A (đài Đ) số 18 với số tiền 100.000đ; Phạm Thị Tuyết M số số lô A (đài Đ) số tiền 100.000đ và bao lô với số tiền 450.000đ; 03 người khác (chưa rõ họ tên, địa chỉ) mua số lô A và bao lô (kết quả xổ số đài Đồng Tháp) các số 24, 10, 11, 19, 91, 77, 29, 81, 79, 27, 16, 52, 24, 65, 35, 15, 01 với tổng số tiền 3.290.000đ; mua số lô A 3 đài (kết quả giải tám xổ số kiến thiết đài Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau) theo hàng 0 (từ 00 – 99) và hàng 7 (từ 70 – 79) với số tiền 600.000đ; bao lô 3 đài (kết quả 02 số cuối từ giải tám đến giải đặc biệt xổ số kiến thiết đài Đồng Tháp, thành phố Hồ Chí Minh, Cà Mau) các số 07, 70, 28, 82, 37, 73 với số tiền 1.800.000₫.

Tại Cáo trạng số 36/CT-VKS ngày 19 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới đã truy tố bị cáo Võ Thị N về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm bị cáo Võ Thị N khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, rất ăn năn, hối cải xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Võ Thị N từ 6 tháng 9 tháng tù về tội “Đánh bạc”.

3

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng

    Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

    Tại phiên tòa người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

  2. Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Võ Thị N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

    Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 25/12/2023, tại khu vực thuộc ấp K, xã K, huyện C, tỉnh An Giang; bị cáo Võ Thị N có hành vi bán số lô, số đề cho 6 người gồm: Lê Thị Q, Phạm Thị L1, Phạm Thị Tuyết M và 03 người khác (không rõ họ tên, địa chỉ) với tổng số tiền của 02 phơi đề là 6.360.000đ thì bị Công an xã K phát hiện bắt quả tang.

    Hành vi phạm tội nêu trên của bị cáo Võ Thị N đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 có khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng xấu đến trật tự tại địa phương do đó cần áp dụng mức hình phạt nghiêm để trừng trị, giáo dục bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội, nhất là trong tình hình các tệ nạn xã hội đang diễn biến ngày càng phức tạp như hiện nay.
  4. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo N xuất thân từ thành phần nhân dân lao động, trước khi phạm tội là người có nhân thân tốt vì chưa có tiền án, tiền sự. Bản thân bị cáo nhận thức rõ hành vi đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích để kiếm tiền tiêu xài.

4

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Hiện nay trên địa bàn huyện C các tội phạm về đánh bạc có chiều hướng gia tăng, đây là nguyên nhân làm mất ổn định tình hình an ninh chính trị tại địa phương và phát sinh các tội phạm khác trong xã hội. Do đó, việc buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù cách ly khỏi xã hội là cần thiết, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là tương xứng với tính chất mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra, đề nghị này được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Ngoài ra bị cáo N khai trước ngày bị bắt quả tang, bị cáo bán số lô, số đề khoảng 3, 4 ngày trước, mỗi ngày bán khoảng 2.000.000đ đến 3.000.000đ, ngoài lời khai của bị cáo không có chứng cứ gì chứng minh, không thu giữ được vật chứng nên không xem xét xử lý phạm bị cáo phạm tội nhiều lần.

  1. Về hình phạt bổ sung: Do hoàn cảnh bị cáo đang gặp khó khăn, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về trách nhiệm của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

    Đối với Lê Thị Q, Phạm Thị L1, Phạm Thị Tuyết M, Võ Văn Q3, Tống Văn Bình A mua số lô, số đề của N là vi phạm pháp luật, nhưng chưa đủ định lượng và chưa có tiền án, tiền sự về hành vi “Đánh bạc”, nên chuyển xử lý hành chính là đúng pháp luật.

    Đối với 03 người không rõ họ tên, địa chỉ mua số lô, số đề của N. Hiện chưa làm việc được, tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau.

    Đối với Lê Minh T, Nguyễn Thị Kim E, Lê Quang V, Lê Thị Tường V1, Đoàn Thanh H không tham gia giúp sức cho Võ Thị N bán số lô, số đề nên không xử lý; Trước phiên tòa hôm nay cũng cần nhắc nhở, giáo dục vì biết bị cáo N bán số lô, số đề mà không can ngăn hoặc trình báo cơ quan có thẩm quyền xử lý.

  3. Về xử lý vật chứng thu giữ:

    11 phơi đề, 01 cây viết mực màu đỏ (đã qua sử dụng) là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

    Đối với số tiền 7.827.000 đồng thu giữ của bị cáo Võ Thị N, trong đó: Số tiền 1.467.000 đồng là tiền của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị

5

cáo nên được trả lại; Số tiền 6.360.000₫ đồng là tiền bán số đề trong ngày 25/12/2023 đây là tài sản liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tịch thu để sung vào ngân sách Nhà nước.

  1. Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuyên bố bị cáo Võ Thị N phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt: Bị cáo Võ Thị N 6 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 25/12/2023.

Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 46; Điều 47; Điều 48 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Trả lại cho bị cáo Võ Thị N số tiền 1.467.000 đồng;

Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 6.360.000đ đồng;

Tịch thu tiêu hủy: 11 phơi đề, 01 cây viết mực màu đỏ (đã qua sử dụng).

(Tất cả các vật chứng trên hiện do Cơ quan Chi Cục thi hành án dân huyện C đang quản lý theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 14/5/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C và Chi Cục thi hành án dân huyện Chợ Mới; Biên lai thu số 0006460 ngày 14/5/2024 của Chi Cục thi hành án dân huyện Chợ Mới).

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Võ Thị N phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Bị cáo Võ Thị N được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

6

Nơi nhận:

  • - VKSND H. Chợ Mới;
  • - VKSND tỉnh An Giang;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ Công an H. Chợ Mới;
  • - CQTHAHS Công an H. Chợ Mới;
  • - CQĐT Công an H. Chợ Mới;
  • - Chi cục THADS H. Chợ Mới;
  • - Bộ phận THAHS Tòa án;
  • - Bị cáo;
  • - Đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Bình

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG về tội đánh bạc (criminal case)

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội Đánh bạc (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo có hành vi đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề được thua bằng tiền
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger