Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày 14/6/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Xuân Hoài

Ông Lê Phi Long

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Khắc Sơn – Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số: 16/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 08/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 24/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: chị Vũ Thị Thanh H, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ G, khu I, phường T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
  2. Bị đơn: anh Vũ Tiến T, sinh năm 1994; nơi ĐKHK: thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: Nhật Bản, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H trình bày: chị và anh Vũ Tiến T tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn vào ngày 11/12/2015, tại UBND xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống cùng bố mẹ chồng tại thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Cuộc sống chung luôn xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Năm 2018, anh T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản, từ khi đi xuất khẩu lao động, anh T không quan tâm, không liên lạc gì với chị, cũng không có trách nhiệm gì với gia đình, con chung. Chị và con chung đã về ở nhà của bố mẹ đẻ tại khu I, phường T, thành phố U nhiều năm nay. Thực tế, giữa chị và anh T không còn tình cảm với nhau, cuộc sống hôn nhân không còn mà chỉ tồn tại trên danh nghĩa, chị cũng không biết địa chỉ cụ thể của anh T hiện nay ở bên Nhật Bản. Chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được ly hôn anh Vũ Tiến T để ổn định cuộc sống.

- Về con chung: chị và anh Vũ Tiến T có 01 con chung là Vũ Thùy C, sinh ngày 01/6/2015. Chị yêu cầu Toà án giải quyết cho chị được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng cho con.

- Về tài sản chung, nợ chung: không có.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 20/3/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh đối với cháu Vũ Thùy C, sinh ngày 01/6/2015, cháu C có nguyện vọng ở cùng với mẹ.

* Tại Công văn số: 6374/QLXNC-P3 ngày 01/4/2024 của Cục Q - Bộ C1 cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Vũ Tiến T như sau: trường hợp Vũ Tiến T, sinh ngày 20/01/1994, CCCD số: [...]; địa chỉ: xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, xuất cảnh ngày 02/9/2018, hiện chưa có thông tin nhập cảnh, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước.

* Tại Biên bản lấy lời khai ngày 05/4/2024 của Toà án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh đối với bà Lý Thị L là mẹ đẻ của anh Vũ Tiến T; địa chỉ: thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh cho biết: từ khi anh Vũ Tiến T đi lao động tại Nhật Bản, anh T vẫn liên lạc với bà bằng ứng dụng mạng xã hội Zalo. Tuy nhiên, bà không biết địa chỉ chính xác hiện nay của anh T ở Nhật Bản nên không cung cấp cho Toà án được. Anh T cũng không cung cấp địa chỉ ở Nhật Bản cho bà biết. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Toà án giao cho anh T, cam đoan sẽ thông báo cho anh T được biết về việc chị H xin ly hôn anh T.

* Ngày 20/5/2024, Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ninh gửi văn bản số: 62/2024/CV-TA về việc đề nghị bà Lý Thị L (là mẹ đẻ của anh Vũ Tiến T) thông báo cho anh Vũ Tiến T viết bản tự khai thể hiện quan điểm của mình đối với yêu cầu khởi kiện xin ly hôn và yêu cầu trực tiếp nuôi con chung của chị Vũ Thị Thanh H (hiện nay vẫn chưa nhận được kết quả).

* Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sơ thẩm:

- Về tố tụng: kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán; Hội đồng xét xử và Thư ký Tòa án, đã tiến hành các thủ tục tố tụng để giải quyết vụ án theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về nội dung: đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H như nêu trên. Căn cứ hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh nhận thấy có căn cứ chấp nhận các yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh H đối với anh Vũ Tiến T: chị Vũ Thị Thanh H được ly hôn với anh Vũ Tiến T; giao con chung Vũ Thùy C, sinh ngày 01/6/2015 cho chị Vũ Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên, anh Vũ Tiến T không phải cấp dưỡng cho con.

Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, quyết định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên toà Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; bị đơn anh Vũ Tiến T có nơi đăng ký hộ khẩu tại thôn N, xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh, hiện nay đang ở Nhật Bản. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37 và điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Nguyên đơn chị Vũ Thị Thanh H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt; bị đơn anh Vũ Tiến T vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ cho người thân trong gia đình; Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng tại chính quyền địa phương theo quy định pháp luật. Căn cứ khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; hướng dẫn tại Công văn số: 253/TANDTC-PC ngày 26 tháng 11 năm 2018 của Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự và công bố các tài liệu, chứng cứ do Tòa án xác minh, thu thập.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị Thanh H và anh Vũ Tiến T tự nguyện đăng ký kết hôn vào ngày 11/12/2015, tại Ủy ban nhân dân xã T, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống với nhau được một thời gian ngắn, vợ chồng luôn xảy ra mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng về quan điểm sống. Năm 2018, anh Vũ Tiến T đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản cho đến nay chưa về thăm nhà và vợ con; không quan tâm, không liên lạc gì với chị Vũ Thị Thanh H và cũng không có trách nhiệm về kinh tế với gia đình, với con chung.

Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy: giữa chị Vũ Thị Thanh H và anh Vũ Tiến T không còn tồn tại đời sống chung vợ chồng, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không còn cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Thanh H đối với anh Vũ Tiến T.

[2.2] Về con chung: chị Vũ Thị Thanh H và anh Vũ Tiến T có một con chung là Vũ Thùy C, sinh ngày 01/6/2015. Từ khi anh Vũ Tiến T đi lao động tại Nhật Bản và hiện nay, con chung Vũ Thùy C do chị Vũ Thị Thanh H trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Vũ Thị Thanh H yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị Vũ Thị Thanh H được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Vũ Tiến T cấp dưỡng cho con chung. Căn cứ quy định tại Điều 81; Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thị Thanh H đối với anh Vũ Tiến T nên chấp nhận yêu cầu của chị Vũ Thị Thanh H: giao con chung Vũ Thùy C, sinh ngày 01/6/2015 cho chị Vũ Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên. Anh Vũ Tiến T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con: chị Vũ Thị Thanh H không yêu cầu anh Vũ Tiến T cấp dưỡng cho con nên Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.

[2.4] Về tài sản chung, nợ chung: chị Vũ Thị Thanh H trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[3] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Vũ Thị Thanh H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[5] Chấp nhận quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ninh về nội dung giải quyết vụ án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; Điều 149; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vũ Thị Thanh H.

  1. Về quan hệ hôn nhân: chị Vũ Thị Thanh H được ly hôn với anh Vũ Tiến T.
  2. Về con chung: giao cho chị Vũ Thị Thanh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Vũ Thùy C, sinh ngày 01/6/2015 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Vũ Tiến T không phải cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, anh Vũ Tiến T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Vũ Tiến T lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Vũ Thị Thanh H có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Vũ Thị Thanh H không đủ điều kiện bảo đảm quyền lợi ích của con thì anh Vũ Tiến T có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  1. Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Vũ Thị Thanh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: chị Vũ Thị Thanh H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005779 ngày 13/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Vũ Thị Thanh H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Vũ Tiến T biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND xã Thượng Yên Công,
  • thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu HSVA; VP.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 14/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vu Thi Thanh H - Vu Tien T
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger