|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG TỈNH NAM ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 14-05-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.
Các hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Trang;
Ông Phạm Kim An.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Vi Hoa-Thư ký Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Đỗ Văn Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 31/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 04 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 04 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Ninh Thái H, sinh ngày 28/7/1989; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông không xác định và bà Ninh Thị C; có vợ là Vũ Thị T, sinh năm: 1987 (đã chết) và có 01 con sinh năm 2011. Tiền án: Ngày 31/12/2008, bị Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/01/2009, bị Toà án nhân dân TP Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, (tổng hợp hình phạt với bản án ngày 31/12/2018 của Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, bị cáo phải chấp hành 02 năm tù), chấp hành xong ngày 30/08/2010. Ngày 23/02/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 15/02/2013. Ngày 12/9/2013, bị Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, TP . xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 29/4/2016, chưa bồi thường thiệt hại 7.000.000 đồng cho bị hại. Ngày 17/5/2018, bị Toà án nhân dân huyện Sóc Sơn, TP . Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 16/4/2023. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 07/12/2016, bị Công an huyện T, tỉnh Hải Dương xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” bằng hình thức phạt tiền.
- Bị cáo bị bắt trong trường hợp giữ khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 02/01/2024, đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
- Nguyễn Ngọc T1, sinh ngày 21/4/1984; nơi cư trú: xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thế B (đã chết) và bà Phạm Thị H1; có vợ là Phạm Thị Kiều A, sinh năm: 1991 (đã ly hôn); bị cáo có 01 con sinh năm 2009; tiền án: Ngày 09/12/2002, bị Toà án nhân dân tỉnh Nam Định xử phạt 08 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” và “Cướp tài sản”, chấp hành xong ngày 30/8/2005, không có thông tin về nộp án phí. Ngày 04/7/2012, bị Tòa án nhân dân TP . Pleiku, tỉnh Gia Lai xử phạt 07 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” và “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 22/9/2018. Ngày 17/9/2019, bị Toà án nhân dân huyện Xuân Trường xử phạt 05 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong ngày 18/6/2023. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 24/4/2006, bị Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, TP . Hà Nội xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 19/3/2007. Ngày 18/02/2009, bị Chủ tịch UBND huyện X ra Quyết định đưa vào cai nghiện bắt buộc trong thời hạn 12 tháng, chấp hành xong ngày19/02/2010.
- Ngày 04/01/2024, bị Cơ quan CSĐT Công an T5 bắt quả tang sau đó khỏi tố bị can, tạm giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T5. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
- Trần Giang Đ, sinh ngày 08/01/1965; nơi cư trú: Tổ dân phố số E, TT . D, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 4/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Ngọc S (đã chết) và bà Đào Thị M; có vợ là thứ nhất: Phạm Thị T2, sinh năm: 1970 (đã ly hôn); vợ thứ hai: Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1987 (đã ly hôn); vợ thứ ba: Nguyễn Thị Thùy A1, sinh năm: 1995 (đã ly hôn) và có 05 con, con lớn nhất sinh năm: 1989, con nhỏ nhất sinh năm: 2012; tiền án: Ngày 23/8/2021, bị Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 01 năm tù về tội “Môi giới mại dâm”, chấp hành xong ngày 11/5/2022. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 13/5/2011, bị Toà án nhân dân huyện Thái Thuỵ, tỉnh Thái Bình xử phạt 09 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 16 tháng 14 ngày về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 06/6/2013, bị Phòng C1, Công an tỉnh T5 xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc bằng hình thức phạt tiền.
- Bị cáo bị bắt trong trường hợp giữ khẩn cấp, tạm giữ từ ngày 02/01/2024, đến ngày 11/01/2024 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Tại phiên toà bị cáo có mặt.
-Người bào chữa cho bị cáo Trần Giang Đ; Bà Trần Thị T3 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm T6, tỉnh Nam Định; có mặt.
- Bị hại:
- Chị Bùi Thị Q1, sinh năm 1978, nơi cư trú: xóm F, xã X; huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
- Chị Nguyễn Thị Hồng B1, sinh năm 1994, nơi cư trú: xóm E, xã X; huyện X, tỉnh Nam Định; vắng mặt.
-Người làm chứng: Anh Ninh Mạnh T4; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau;
Ninh Thái H, sinh năm 1989, cư trú: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và Nguyễn Ngọc T1, sinh năm 1984, cư trú: xóm A, xã X, huyện X, tỉnh Nam Định quen biết nhau trong thời gian cả hai đi chấp hành án phạt tù. Sau khi ra tù vẫn thường xuyên liên lạc, đi lại với nhau. Khoảng tháng 12/2023, H và T1 rủ nhau đi trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện X bán lấy tiền ăn tiêu. Cả hai thống nhất: H chuẩn bị công cụ phá khoá gồm vam và tay công để trực tiếp phá khoá xe, mang đi tiêu thụ còn T1 là người thuộc địa bàn nên sẽ điều khiển xe chở H đi trộm cắp và cảnh giới. Trong tháng 12/2023, H và T1 đã cùng nhau thực hiện 02 vụ trộm cắp xe mô tô trên địa bàn huyện X, cụ thể:
Vụ thứ nhất: Khoảng 08 giờ ngày 17/12/2023, H điều khiển xe mô tô Honda Vision, màu xanh, BKS: 17B6-328.75 mượn của anh Ninh Mạnh T4, sinh năm 1987, cư trú: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình, mang theo bộ công cụ phá khoá xe đi từ nhà đến xóm A, xã X, huyện X để đón T1 đi trộm cắp tài sản như đã bàn bạc từ trước. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô nêu trên chở H đến khu vực nghĩa trang N xã X, huyện X thì phát hiện bên trong nghĩa trang cách cổng khoảng 30m có 01 xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ đen, BKS: 18F1-324.47 của bà Bùi Thị Q1, sinh năm 1978, cư trú: xóm F, xã X đang để ở đó và không có người trông coi. T1 dừng xe đứng ngoài cảnh giới còn H đi đến gần xe mô tô của bà Q1. Quan sát xung quanh không có ai, H dùng vam phá ổ khoá điện, mở được khoá liền ngồi lên xe nổ máy điều khiển xe khỏi hiện trường đi về huyện T, tỉnh Thái Bình tìm nơi tiêu thụ. T1 điều khiển xe mô tô BKS: 17B6-328.75 theo sau. Trên đường đi, H và T1 đã tháo BKS: 18F1-324.47 và lấy giấy tờ xe trong cốp chiếc xe trộm cắp được vứt cả xuống sông. Do chưa tìm được nơi tiêu thụ nên H đã cất giấu chiếc xe mô tô trộm cắp được tại khu vực nhà hoang thuộc xã T, huyện T và đưa trước cho T1 500.000 đồng. Sau đó cả hai đi về.
Vụ thứ hai: Khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/12/2023, H điều khiển xe mô tô Jupiter, BKS: 14P1-9748 của H mang theo bộ C2 phá khoá đến đón T1. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T1 điều khiển xe mô tô nêu trên chở H đi đến khu vực nhà thờ P thuộc xóm B, xã X thì thấy trong sân phía nam nhà thờ có dựng nhiều xe mô tô của người dân đến dự lễ không có người trông coi, trong đó có xe mô tô Honda Wave A2, màu trắng bạc, BKS: 18F1-468.35 của chị Nguyễn Thị Hồng B1, sinh năm 1994, cư trú: xóm E, xã X. T1 cảnh giới còn H tiếp cận và bẻ khoá, trộm cắp chiếc xe mô tô của chị B1, rồi điều khiển xe trộm cắp được sang huyện T, tỉnh Thái Bình. Trên đường đi, H và T1 tháo BKS: 18F1- 468.35 vứt xuống sông rồi H gọi điện cho Trần Giang Đ, sinh năm: 1965, trú tại: TDP số E, thị trấn D, huyện T (H quen biết Đ từ trước) nói có xe mô tô vừa trộm cắp được muốn bán. Đ đồng ý mua và hẹn chỉ gặp một mình H ở khu vực Cầu mới, thị trấn D. Khi đến điểm hẹn, T1 đứng từ xa còn H mang xe trộm cắp được đến gặp Đ. Tại đây Đ thấy xe không biển kiểm soát, không đăng ký xe, biết là xe trộm cắp nên hỏi “Xe nhảy ở đâu” (ý nói là “Trộm cắp ở đâu”), H trả lời “Xe nhảy ở Nam Định”. Đào biết là xe đó do trộm cắp mà có những vẫn đồng ý mua với giá 2.500.000 đồng, Hoà đồng ý. Đào trả trước 1.500.000 đồng còn nợ lại 1.000.000 đồng. H nhận tiền, đưa xe cho Đ rồi quay lại cùng T1 đi về huyện X. Trên đường về H chia cho T1 500.000 đồng.
Nhận được đơn trình báo của người bị hại Cơ quan CSĐT Công an huyện X đã tiến hành điều tra, xác minh và làm rõ hành vi của Ninh Thái H, Nguyễn Ngọc T1, Trần Giang Đ. Ngày 02/01/2024, Cơ quan điều ra đã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Ninh Thái H và Trần Giang Đ. Sau khi H và Đ bị bắt, Nguyễn Ngọc T1 đã bỏ trốn khỏi địa phương, đến ngày 04/01/2024 bị Cơ quan CSĐT Công an thành phố T5 bắt quả tang về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
Tại Cơ quan điều tra, Ninh Thái H, Nguyễn Ngọc T1 và Trần Giang Đ đã khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên. Số tiền 1.000.000 đồng H đưa, T1 khai đã ăn tiêu hết. H khai đã ăn tiêu hết số tiền do bán xe mà có
Tài sản thu giữ:
Ninh T đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ đen, không gắn biển số, số máy JA38E0302532, số khung: RLHJA3828GY142732 chiếm đoạt của bà Q1; 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, màu đỏ xám bạc, BKS: 14P1-9748; 01 đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số: 0013713, biển số đăng ký: 14P1-9748; 01 đầu vam phá khoá bằng kim loại dài 06 cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đàu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 đầu vam phá khoá bằng kim loại dài 08 cm, một đầu dẹp rộng 0,5 cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 cờ lê bằng kim loại dài 12cm, cuốn băng dính màu đen, một đầu được thiết kế hình chữ U rộng 0,8 cm, một đầu được thiết kế hình tròn răng cưa đường kính 0,8cm; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8, vỏ màu trắng, cũ, đã qua sử dụng, bên trong nắp sim số thuê bao: 0378.178.070.
Trần Giang Đ tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 xe mô tô Honda Wave, màu trắng bạc, không gắn biển số, số máy JA39E2885081, số khung: RLHJA3924NY453408 mua của H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy Z Flip 4 màu vàng, cũ đã qua sử dụng, bên trong nắp sim số thuê bao: 0372.851.955.
- Anh Ninh Mạnh T4 giao nộp: 01 xe máy Honda Vision, màu xanh, BKS: 17B6-328.75.
- Chị Nguyễn Thị Hồng B1 giao nộp: 01 đăng ký xe mô tô, gắn máy số 18000023.
Ngày 02/01/2024, Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá tài sản đối với 02 xe mô tô Ninh T và Nguyễn Ngọc T1 chiếm đoạt. Tại Kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 04/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS huyện X kết luận:
- Tại thời điểm ngày 17/12/2023, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, sơn màu đen đỏ, mua mới năm 2018, không gắn biển số, số máy JA38E0302532; số khung: RLHJA3828GY142732, xe cũ, vẫn còn khả năng hoạt động, đã qua sử dụng có giá trị là 11.000.000 đồng.
- Tại thời điểm ngày 24/12/2023, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, sơn màu trắng bạc, mua mới năm 2022, không gắn biển số, số máy JA39E2885081; số khung: RLHJA3924NY453408, xe cũ, vẫn còn khả năng hoạt động, đã qua sử dụng có giá trị là 11.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng của vụ án:
- Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave RSX, sơn màu đen đỏ cho bà Bùi Thị Q1, 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave Alpha, sơn màu trắng bạc cùng 01 đăng ký xe mô tô, gắn máy số 18000023 cho chị Nguyễn Thị Hồng B1, chiếc xe mô tô BKS: 17B6-328.75 cho anh Ninh Mạnh T4;
- Đối với chiếc biển kiểm soát số 18F1-324.47 cùng giấy tờ xe và biển kiểm soát số 18F1-468.35 H và T1 vứt xuống sông nhưng không nhớ vị trí nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Về trách nhiệm dân sự:
Những bị hại trong vụ án không yêu cầu bồi thường về dân sự.
Cáo trạng số 28/CT-VKSXT ngày 15/04/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường đã truy tố hành vi của Ninh Thái H và Nguyễn Ngọc T1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Trần Giang Đ về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
-Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố các bị cáo Ninh Thái H và Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ninh Thái H.
Xử phạt bị cáo Ninh Thái H từ 03 năm 06 tháng đến 4 năm tù.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 17 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
-Tuyên bố bị cáo Trần Giang Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Giang Đ từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù.
-Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm về dân sự nữa là phù hợp.
-Về xử lý vật chứng; Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 14P1-9748; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone8 cùng thẻ sim của bị cáo Ninh Thái H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy ZFip4 cùng thẻ sim của bị cáo Trần Giang Đ.
Truy thu số tiền 1.000.000đ của bị cáo Ninh Thái H và 500.000đ của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 để sung ngân sách Nhà nước.
Tịch thu cho tiêu thuỷ: 01 đầu van phá khoá bằng kim loại dài 0,6cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 đầu van phá khoá bằng kim loại dài 08cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 cờ lê bằng kim loại dài 12cm, cuốn băng dính màu đen một đầu được thiết kế hình chữ U rộng 0,8cm, một đầu được thiết kế hình tròn răng cưa đường kính 0,8cm
Các bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của vị đại diện diện Viện kiểm sát.
Người bào chữa cho bị cáo Trần Giang Đ trình bày: Bị cáo Trần Giang Đ bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Xuân Trường truy tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có) theo quy định tại khoản 1 Điều 323 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, đề nghị HĐXX khi xem xét lượng hình phạt cho bị cáo Trần Giang Đ1 được hưởng mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo sớm được trở về với gia đình chăm sóc mẹ già nuôi con nhỏ cũng như hoà nhập cộng đồng.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối lỗi mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện X, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện X, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc kết tội: Hành vi của bị cáo như đã khai nhận tại phiên tòa phù hợp với các lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại; phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Trong tháng 12/2023, Ninh Thái H và Nguyễn Ngọc T1 đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản, lén lút chiếm đoạt 02 chiếc xe mô tô trên địa bàn huyện X, cụ thể: Ngày 17/12/2023, trộm cắp tại xã X 01 xe mô tô Honda Wave RSX, màu đỏ đen, BKS: 18F1-324.47 của bà Bùi Thị Q1 trị giá 11.000.000 đồng; Ngày 24/12/2023, trộm cắp tại xã X 01 xe mô tô Honda Wave Alpha, màu trắng bạc, BKS: 18F1-468.35 của chị Nguyễn Thị Hồng B1 trị giá 11.000.000 đồng rồi bán chiếc xe này cho Trần Giang Đ. Đào biết rõ là tài sản do trộm cắp mà có nhưng vẫn mua với giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản Ninh Thái H và Nguyễn Ngọc T1 chiếm đoạt là 22.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của các bị cáo Ninh Thái H và Nguyễn Ngọc T1 đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Trần Giang Đ đã cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại khoản 1 Điều 323 BLHS như Viện kiểm sát truy tố bị cáo ra phiên toà là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Trộm cắp tài sản” của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác là khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị án, gây tâm lý hoang mang cho quần chúng nhân dân. Bản thân các bị cáo là người có năng lực hành vi nhận thức được việc mình làm song vì mục đích để có tiền tiêu sài cho bản thân các bị cáo đã đi trộm cắp tài sản, bị cáo H, bị cáo T1 mới chấp hành xong hình phạt tù nhưng không lấy đó để làm bài học cho bản thân mà tiếp tục dấn thân vào con đường phạm tội ngựa quen đường cũ thể hiện sự coi thường pháp luật. Đối với bị cáo Trần Giang Đ biết rõ chiếc xe mô tô mà bị cáo Ninh Thái H trộm cắp nhưng vẫn cố tình mua hành vi của bị cáo Đ là tiếp tay cho việc trộm cắp tài sản. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Đây là vụ án đồng phạm giản đơn theo quy định tại Điều 17 của Bộ luật hình sư: Bị cáo H và bị cáo T1 cùng bàn bạc rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Tuy nhiên bị cáo H là người tích cực trực tiếp dùng vam phá khoá để lấy hai chiếc xe mô tô đồng thời là người chuẩn bị công tụ phương tiện lên bị cáo được xếp vai trò đầu và chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T1; bị cáo T1 là người đứng cảnh giới giúp sức để bị cáo H lấy xe mô tô, vì vậy bị cáo chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo H.
[5] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo H, bị cáo T1 ngoài việc truy tố theo tình tiết định khung hình phạt thì bị cáo H và bị cáo T1 còn phải chịu tình tiết tăng nặng là phạm tội 2 lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự; bị cáo Đào phại chịu tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo T1 được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
[6] Đối với bị cáo Nguyễn Ngọc T1 tại bản án hình sự số 69/2024/HSSTngày 06/5/2024 của Toà án nhân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 05 (năm) 09 (chín) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
[7] Về hình phạt: Từ những phân tích trên, căn cứ vào nhân thân, tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với hành vi của các bị cáo thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội đồng thời đấu tranh phòng ngừa chung.
[8] Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình các bị cáo khó khăn nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm về dân sự nữa là phù hợp.
[10] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ:
Đối với 01 xe mô tô BKS 14P1-9748; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone8 cùng thẻ sim đã thu giữ của bị cáo Ninh Thái H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy ZFip4 cùng thẻ sim thu giữ của bị cáo Trần Giang Đ là công cụ phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
Đối với số tiền 1.000.000đ của bị cáo Ninh Thái H và 500.000đ của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 đã chi tiêu hết. Đây là số tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu lại số tiền này của các bị cáo để sung ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 500.000đ bị cáo H đưa cho bị cáo T1, tại phiên toà H khai số tiền này H đưa cho bị cáo T1 để bị cáo T1 đi về, do đó số tiền này không liên quan đến việc phạm tội ngày 17/12/2023 nên không truy thu số tiền này của bị cáo T1.
Đối với 01 đầu van phá khoá bằng kim loại dài 0,6cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 đầu van phá khoá bằng kim loại dài 08cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 cờ lê bằng kim loại dài 12cm, cuốn băng dính màu đen một đầu được thiết kế hình chữ U rộng 0,8cm, một đầu được thiết kế hình tròn răng cưa đường kính 0,8cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 cờ lê bằng kim loại dài 12cm, cuốn băng dính màu đen một đầu được thiết kế hình chữ U rộng 0,8cm, một đầu được thiết kế hình tròn răng cưa đường kính 0,8cm là công cụ phương tiện phạm tội không còn giá trị nên tịch thu cho tiêu huỷ.
[11] Đối với anh Ninh Mạnh T4 có hành vi cho Ninh Thái H mượn chiếc xe mô tô BKS: 17B6-328.75, sau đó H sử dụng đi trộm cắp tài sản. Xét ý thức chủ quan của T4 là không biết H mượn xe đi thực hiện hành vi phạm tội nên không có căn cứ xem xét xử lý vì vậy Cơ quan điều tra đã nhắc nhở, rút kinh nghiệm là phù hợp pháp luật
[12] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
[13] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Ninh Thái H và Nguyễn Ngọc T1 phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ninh Thái H.
Xử phạt bị cáo Ninh Thái H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Nguyễn Ngọc T1.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc T1 03 (ba) năm tù.
- Tuyên bố bị cáo Trần Giang Đ phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Giang Đ 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2024.
- Về xử lý vật chứng tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, điểm Điều106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô BKS 14P1-9748; 01 đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Nguyễn Thị Thùy L; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPhone8 cùng thẻ sim của bị cáo Ninh Thái H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung Galaxy ZFip4 cùng thẻ sim của bị cáo Trần Giang Đ.
Truy thu số tiền 1.000.000đ của bị cáo Ninh Thái H và 500.000đ của bị cáo Nguyễn Ngọc T1 để sung ngân sách Nhà nước.
Tịch thu cho tiêu thuỷ: 01 đầu van phá khoá bằng kim loại dài 0,6cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 đầu van phá khoá bằng kim loại dài 08cm, một đầu dẹp rộng 0,5cm, một đầu hình lục giác có quấn nilon màu xanh; 01 cờ lê bằng kim loại dài 12cm, cuốn băng dính màu đen một đầu được thiết kế hình chữ U rộng 0,8cm, một đầu được thiết kế hình tròn răng cưa đường kính 0,8cm
(Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 50/CCTHA ngày 22/4/2024 giữa Công an huyện X và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Xuân Trường).
- Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Buộc các bị cáo Ninh Thái H, Nguyễn Ngọc T1, Trần Giang Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Phạm Ngọc Long |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự: trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN XUÂN TRƯỜNG, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
