|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 14 - 5 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tòng Thị Lan
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lò Văn Vớn, ông Giàng A Gông
- Thư ký phiên tòa: Ông Thào A Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Đồng Xuân Sỹ - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 32/2024/TLST - HS ngày 20/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2024/QĐXXST - HS ngày 02/5/2024 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Đèo Thị A - Tên gọi khác: Không; Sinh năm 1983 tại huyện G, tỉnh Điện Biên; Quê quán: xã N, huyện G, tỉnh Điện Biên; Nơi đăng ký thường trú và nơi cư trú: Tổ dân phố Q, thị trấn C, huyện C tỉnh Điện Biên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Đèo Văn Nh (đã chết) và bà Cà Thị L - Sinh năm 1939; Chồng là Lò Văn P - Sinh năm 1975 và có 04 con, con lớn nhất sinh năm 2006, con nhỏ nhất sinh năm 2022; Tiền án: Không, Tiền sự: Không; Chức vụ đảng, chính quyền: Không; Nhân thân: Chưa bị xử phạt hành chính, chưa bị Tòa án nào xét xử.
- Tạm giữ từ ngày 27/11/2023 đến ngày 03/12/2023; tạm giam: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/12/2023 đến nay. Bị cáo có mặt.
- Người phiên dịch: Bà Lò Thị T - Sinh năm 1980; Nơi cư trú: Bản B, thị trấn C, huyện T, tỉnh Điện Biên. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 30 phút, ngày 27/11/2023 bị cáo Đèo Thị A gặp một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ tại đoạn đường thuộc nghĩa trang nhân dân thị trấn C, tại đây bị cáo hỏi mua được của người này 01 gói ma tuý được gói ngoài bằng nilon màu xanh với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được bị cáo cất giấu gói ma tuý trong túi quần bên phải đang mặc của mình rồi đi bộ về nhà. Đến 09 giờ 45 phút cùng ngày khi bị cáo về đến đoạn đường thuộc tổ dân phố Q, thị trấn C thì bị tổ công tác Công an huyện T phát hiện, bắt quả tang về hành vi cất giấu trái phép chất ma túy đồng thời thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh, mở bên trong có 04 viên nén màu hồng, một mặt của mỗi viên nén có chữ WY và 01 gói được gói ngoài bằng mảnh nilon màu xanh bên trong có các cục chất bột màu trắng thể rắn.
Hồi 13 giờ 45 phút, ngày 27/11/2023 Cơ quan điều tra mở niêm phong, xác định khối lượng, lấy mẫu giám định, xác định vật chứng thu giữ của Đèo Thị A: Các cục chất bột màu trắng thể rắn có khối lượng 0,1043 gam lấy toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu H1; 04 viên nén màu hồng có khối lượng 0,4031 gam lấy toàn bộ làm mẫu vật gửi giám định ký hiệu M1.
Kết luận giám định số 1643/KL - PC09 ngày 06/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên kết luận: Khối lượng vật chứng thu giữ của Đèo Thị A gồm 0,1043 gam cục chất bột màu trắng và 0,4031 gam các viên nén màu hồng.
- Mẫu chất bột màu trắng ký hiệu H1 thu giữ gửi giám định là chất ma tuý: Loại Heroine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,06 gam.
- Mẫu các viên nén màu hồng ký hiệu M1 thu giữ gửi giám định là chất ma tuý: Loại Methamphetamine. Hoàn mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,36 gam và toàn bộ bao bì niêm phong cũ.
Cáo trạng số 06/CT - VKSHTC ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tủa Chùa truy tố bị cáo Đèo Thị A về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản đối với bị cáo; Về vật chứng, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định loại Heroine và Methamphetamine; đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi phạm tội:
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến bắt quả tang bị cáo, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả thu giữ vật chứng; Biên bản mở niêm phong, xác định khối lượng và Bản kết luận giám định của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
Có đủ cơ sở kết luận ngày 27/11/2023 bị cáo đã một mình mua được 02 chất ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông, bị cáo không biết họ tên, địa chỉ với giá 200.000 đồng tại đoạn đường thuộc nghĩa trang nhân dân thị trấn C, mục đích bị cáo mua ma túy để sử dụng. Sau đó bị cáo cất giấu gói ma túy trong túi quần bên phải đang mặc và trên đường về đã bị tổ công tác Công an huyện T bắt quả tang và thu giữ toàn bộ số ma túy.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự đã cố ý mua 0,1043 gam Heroine và 0,4031 gam Methamphetamine, tổng khối lượng hai chất ma túy là 0,5074 gam. Hành vi cất giấu trái phép hai chất ma túy của bị cáo với mục đích sử dụng đã đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[2] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Bị cáo là người nghiện chất ma túy, quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn về hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự "thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
Căn cứ vào tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng mức hình phạt tù tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo.
[3] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào biên bản xác minh tài sản của Cơ quan điều tra và tranh tụng tại phiên tòa cho thấy, bị cáo không có tài sản gì giá trị, gia đình thuộc hộ nghèo, bị cáo không có việc làm và thu nhập thường xuyên, đại diện Viện kiểm sát đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền hoặc tịch thu tài sản theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo là phù hợp.
[4] Về vấn đề khác có liên quan: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa không xác định được họ tên, địa chỉ nên Hội đồng xét xử không có cơ sở để xem xét, xử lý.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với khối lượng 0,06 gam Heroine và 0,36 gam Methamphetamine còn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm tàng trữ; 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Công an huyện T phát hành là vật không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
[6] Về án phí: Do gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo theo giấy chứng nhận hộ nghèo, hộ cận nghèo số 86/GCN – HN.HCN ngày 01/01/2023 của UBND thị trấn C, nên cần miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
1. Tuyên bố: Bị cáo Đèo Thị A phạm tội: " Tàng trữ trái phép chất ma túy "
2. Hình phạt: Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đèo Thị A 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Khấu trừ cho bị cáo 06 (sáu) ngày tạm giữ, Bị cáo còn phải chấp hành 01 (một) năm 03 (ba) tháng 24 (hai mươi bốn) ngày tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
3. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên phát hành mẫu vật hoàn lại theo kết luận giám định số 1643/KL - KTHS ngày 06/12/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Điện Biên.
- - 01 gói niêm phong bì thư màu trắng do Công an huyện T phát hành mặt trước gói niêm phong ghi vật chứng vụ Đèo Thị A.
Số vật chứng trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện T đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện T.
4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
5. Kháng cáo: Áp dụng khoản 1 Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 14/5/2024).
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Tòng Thị Lan |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 14/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TỦA CHÙA, TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đèo Thị A - TTTPCMT
