Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÁNH LINH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 12-7-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Mạnh Trí
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thông Phi và ông Phan Thị Thắng.
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Biện Việt Cường - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Thái Thoại - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 26/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 11/2024/HSST-QĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 và Thông báo mở lại phiên tòa số 10/2024/TB-TA ngày 01 tháng 7 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ và tên: Lê Minh T, sinh năm 1989; tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: số I, tổ A, khu phố E, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Á, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1966; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là người con lớn nhất trong gia đình; có vợ là Bùi Thị Mỹ H, sinh năm 1992 (đã ly thân) và có 01 người con sinh năm 2009; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 08/7/2022, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 47/2022/QĐ-TA, chấp hành xong ngày 28/4/2023.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/01/2024, tạm giữ, tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ - Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt tại phiên tòa.

2. Họ và tên: Tống Văn T1, sinh năm 1988; tại: Nam Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nơi ở: Tổ B, ấp C, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Hữu P1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là người con thứ ba trong gia đình; có vợ là Mai Thị H1, sinh năm 1991 và có 02 người con lớn nhất sinh năm 2015, nhỏ nhất sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: không;

Về nhân thân: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 195/2015/HSST ngày 22/9/2015 Tòa án nhân dân Quận 12 Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Tống Văn T1 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, chấp hành xong ngày 13/11/2017, đã được xóa án tích.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/01/2024, tạm giữ, tạm giam cho đến nay tại nhà tạm giữ - Công an huyện T, tỉnh Bình Thuận; Có mặt tại phiên tòa.

3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • - Anh Hoàng Đại Hiển C, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Số C, lô A, X, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
  • - Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1966; Nơi cư trú: Số I, tổ A, khu phố E, phường T, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.

4. Người làm chứng:

  • - Ông Lê Văn T2, sinh năm 1960; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.
  • - Ông Nguyễn Xuân T3, sinh năm 1971; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.
  • - Ông Trần L, sinh năm 19831; Nơi cư trú: Thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 31/12/2023, Lê Minh TTống Văn T1 cùng nhau sử dụng chất ma túy tại nhà của T1, trong lúc sử dụng chất ma túy thì T nhờ T1 điện thoại cho C1 (không xác định được nhân thân, lai lịch) mua 60gam ma túy thì T1 đồng ý và gọi qua mạng xã hội Z cho C1 thì C1 báo giá là 19.000.000đồng. Sau khi bàn bạc thống nhất thì cả hai quyết định mua ma túy của C1. Đến khoảng 17 giờ thì có một thanh niên đến nhà T1 giao ma túy thì T1 lấy ma túy bỏ vào trong ba lô của T (ba lô T để nhà T1), sau đó T lấy đồ và đi khỏi nhà T1.

Khoảng 19 giờ 40 phút cùng ngày cả hai hẹn gặp nhau tại ngã tư G thuộc quận A, thành phố Hồ Chí Minh thì T điều khiển xe mô tô loại Wave màu xanh, biển kiểm soát 51S9-0777 chở T1 đi theo quốc lộ A để về tỉnh Bình Thuận, khi đi đến khu công nghiệp A thuộc Thành phố B, tỉnh Đồng Nai thì cả hai ghé vào ăn tối. Sau khi ăn tối xong T1 điều khiển xe chở T tiếp tục đi đến khu vực huyện X, tỉnh Đồng Nai thì phát hiện có lực lượng Công an huyện X đang chốt chặn, do cả hai không có giấy phép lái xe nên T nói T1 chạy xe quay lại tìm nhà nghỉ ngủ để sáng đi tiếp. Đến khoảng 04 giờ ngày 01/01/2024, T gọi T1 dậy và lấy trong ba lô đưa cho T1 01 bịch ma túy và nói T1 cầm trên tay nếu bị phát hiện thì ném ra khỏi xe nên T1 đồng ý cầm. T chở T1 đi đến khu vực cầu T rồi ghé vào uống cà phê và nghỉ ngơi tại khu vực nhà nghỉ T5 thuộc thôn B, xã Đ, huyện T. Lúc này, T nói T1 đưa bịch ma túy cho T cất giấu thì T1 đưa cho T, khi T ra phía sau đi vệ sinh thì bị lực lượng Công an ập vào bắt quả tang, do sợ nên T lấy bịch ma túy ném xuống đất. Công an xã Đ và người dân khống chế bắt giữ T và lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ, niêm phong tang vật rồi đưa cả hai về trụ sở làm việc, Công an xã Đ đưa Lê Minh T, Tống Văn T1 đến Trung tâm y tế huyện T để xét nghiệm mẫu nước tiểu thì cả hai dương tính với Methamphetamine.

Tại Kết luận giám định số 03/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B đã kết luận: “Mẫu M (01 túi ny lon màu trắng, kích thước (9x15)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng) có khối lượng là 59,7781gam là Methamphetamine”.

Vật chứng thu giữ:

  • - 01 gói ny long không màu, đã cắt lấy mẫu cùng 58,0954gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 03 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B; 01 ví da bên trong có 01 căn cước công dân Lê Minh T, 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 51S9-0777 tên Hoàng Đại Hiển C, 01 thẻ ATM của Ngân hàng S mang tên Nguyễn Thị P, 01 thẻ ATM của Ngân hàng T6 mang tên Lê Minh T; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh biển kiểm soát 51S9-0777; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S màu xanh, 01 sạc dự phòng Remax dung lượng 10000mAh; 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7+ đã qua sử dụng.

Tại Bản cáo trạng số 27/CT-VKSND-TL ngày 13 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận truy tố các bị cáo Lê Minh T, Tống Văn T1 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận: Giữ nguyên quan điểm như bản Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Minh T, Tống Văn T1 phạm tội:

“Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với Tống Văn T1; điểm b khoản 3 Điều 249; Điều 38 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Minh T để xử phạt:

  • - Bị cáo Lê Minh T mức án từ 12 năm đến 13 năm tù.
  • - Bị cáo Tống Văn T1 mức án từ 11 năm đến 12 năm tù.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ny long không màu, đã cắt lấy mẫu cùng 58,0954gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 03 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B;
  • - Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Samsung J7+ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh biển kiểm soát 51S9-0777 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 51S9-0777 tên Hoàng Đại Hiển C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S màu xanh, 01 sạc dự phòng Remax dung lượng 10000mAh;
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 ví da bên trong có 01 căn cước công dân Lê Minh T, 01 thẻ ATM của Ngân hàng T6 mang tên Lê Minh T;
  • - Trả lại cho bà Nguyễn Thị P: 01 thẻ ATM của Ngân hàng S mang tên Nguyễn Thị P.

Bị cáo Lê Minh T không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo Tống Văn T1 không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về việc vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người làm chứng dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không rõ lý do, đồng thời thể hiện trong hồ sơ vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành thu thập lời khai đầy đủ, rõ ràng đối với những người này nên việc vắng mặt người tham gia tố tụng trên không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, do đó căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ Luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng.

[3]. Về hành vi của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Minh T, Tống Văn T1 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai tại cơ quan điều tra; kết luận giám định; lời khai của người làm chứng, người chứng kiến và vật chứng đã thu giữ trong vụ án; cũng như các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 06 giờ 30 phút, ngày 01/01/2024, tại thôn B, xã Đ, huyện T, tỉnh Bình Thuận, bị cáo Lê Minh T cùng với bị cáo Tống Văn T1 đã có hành vi tàng trữ 01 túi ny lon màu trắng, kích thước (9x15)cm bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng, với khối lượng đã được giám định theo kết luận giám định số 03/KL-KTHS ngày 05/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh B là 59,7781gam Methamphetamine. Vì vậy có đủ căn căn cứ xác định các bị cáo Lê Minh TTống Văn T1 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 3 Điều 249 Bộ luật hình sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) theo như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tánh Linh truy tố đối với các bị cáo là có căn cứ.

[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi của các bị cáo Lê Minh TTống Văn T1 là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội và chế độ quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy gây ảnh hưởng xấu đến con người và là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương nhưng các bị cáo vẫn mua ma túy để nhằm mục đích sử dụng. Do đó cần xử phạt các bị cáo mức án tương xứng với tính chất, mức độ do hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra.

[5]. Xét về vai trò đồng phạm của từng bị cáo: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo T thừa nhận bị cáo là người khởi xướng mua ma túy và nhờ bị cáo T1 đứng ra liên hệ với C1 để mua ma túy cho T. Bản thân bị cáo là người sử ma túy và đã có tiền sự trước khi phạm tội, cụ thể: Vào ngày 08/7/2022, bị Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 47/2022/QĐ-TA. Bị cáo Tống Văn T1 cũng là người sử dụng ma túy, sau khi sử dụng ma Túy với bị cáo T thì được T nhờ mua ma túy, bị cáo không từ chối mà nhận lời liên hệ với C1 để mua ma túy giao cho T. Tại thời điểm phạm tội bị cáo có nhân thân xấu, tại Bản án hình sư sơ thẩm số 195/2015/HSST ngày 22/9/2015, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh đã xử phạt Tống Văn T1 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại khoản 2, Điều 104 Bộ Luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009, chấp hành xong ngày 13/11/2017, đã được xóa án tích.

[6]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[7]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Tống Văn T1 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Đối với bị cáo Lê Minh T trong quá trình Điều tra không thành khẩn khai báo, tuy nhiên tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình. Nên Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét giảm trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự là phù hợp với tính khoan hồng của pháp luật.

[8]. Cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử xét thấy cần xử phạt bị cáo T mức án cao hơn bị cáo T1 và phải cần cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian cần thiết nhằm mục đích cải tạo, giáo dục đối với các bị cáo và để răn đe phòng ngừa chung về tội phạm.

[9]. Về vật chứng: Hiện đang thu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận:

  • - 01 gói ny long không màu, đã cắt lấy mẫu cùng 58,0954gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 03 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B. Xét đây là vật cấm tàng trữ nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7+ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh biển kiểm soát 51S9-0777 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 51S9-0777 tên Hoàng Đại Hiển C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S màu xanh, 01 sạc dự phòng Remax dung lượng 10000mAh. Xét đây là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
  • - Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 ví da bên trong có 01 căn cước công dân Lê Minh T, 01 thẻ ATM của Ngân hàng T6 mang tên Lê Minh T; Trả lại cho bà Nguyễn Thị P: 01 thẻ ATM của Ngân hàng S mang tên Nguyễn Thị P theo quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10]. Đối với hành vi của C1T4: Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T chưa xác định được nhân thân, lai lịch của C1T4, không khởi tố vụ án nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để xem xét, giải quyết.

[11]. Về án phí: Buộc bị cáo Lê Minh TTống Văn T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Căn cứ Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Tuyên bố: Các bị cáo Lê Minh T, Tống Văn T1 phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt: Căn cứ điểm b Khoản 3 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017):

  • - Xử phạt: Lê Minh T 12 (mười hai) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 01/01/2024.
  • - Xử phạt: T7 (mười một) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ 01/01/2024.

3. Về vật chứng:

  • - Căn căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 gói ny long không màu, đã cắt lấy mẫu cùng 58,0954gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 03 có chữ ký của Giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu sung công quỹ Nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung J7+ đã qua sử dụng; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda loại Wave màu xanh biển kiểm soát 51S9-0777 và 01 giấy đăng ký xe mô tô, xe máy biển kiểm soát 51S9-0777 tên Hoàng Đại Hiển C; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A21S màu xanh; 01 sạc dự phòng Remax dung lượng 10000mAh.
  • - Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
  • + Trả lại cho bị cáo Lê Minh T: 01 ví da bên trong có 01 căn cước công dân Lê Minh T, 01 thẻ ATM của Ngân hàng T6 mang tên Lê Minh T.
  • + Trả lại cho bà Nguyễn Thị P: 01 thẻ ATM của Ngân hàng S mang tên Nguyễn Thị P.

Tất cả các vật chứng nêu trên hiện đang thu giữ tại Kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tánh Linh, tỉnh Bình Thuận, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16 tháng 5 năm 2024.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Lê Minh T và bị cáo Tống Văn T1 mỗi người phải nộp số tiền 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/7/2024). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết. (Đã giải thích quyền kháng cáo)

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Tánh Linh;
  • - C.q CSĐT - Công an h. Tánh Linh;
  • - C. q. THAHS - Công an h. Tánh Linh;
  • - Nhà tạm giữ - Công an h. Tánh Linh;
  • - Chi cục THADS h. Tánh Linh;
  • - UBND xã nơi b.c cư trú (thay T/B);
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Mạnh Trí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 12/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÁNH LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger