|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày 12/7/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Minh Lý
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đinh Quốc Minh
Ông Nguyễn Ngọc Ngư
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương - Thư ký Tòa án nhân dân
huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương tham gia phiên
tòa: Ông Triệu Đức Hoàng - Chức vụ: Kiểm sát viên sơ cấp.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2024/ HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/HSST- QĐ ngày 28 tháng 6 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Xuân T. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; sinh năm 1987.
Nơi cư trú: Tổ dân phố T, thị trấn Đ, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: lớp 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1962. Con bà: Trần Thị H1, sinh năm 1964. Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ: Đinh Thị S, sinh năm 1984. Có 01 con sinh năm 2016.
Tiền án: Không.
Tiền sự: 01. Ngày 09/9/2019, Nguyễn Xuân T bị Tòa án nhân dân huyện Phú Lương ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính, đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng, đã chấp hành xong ngày 02/3/2022.
Nhân thân: Ngày 25/4/2011, UBND huyện P Quyết định đưa người nghiện ma túy vào chữa bệnh bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh giáo dục LĐXH huyện P, thời hạn 18 tháng.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 25/3/2024. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện P.( Có mặt tại phiên tòa)
Bị hại: Anh Hầu Văn L, sinh năm 1985, địa chỉ: Xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt)
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978, địa chỉ: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1974, địa chỉ: Tổ D, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
- Anh Ngô Xuân T2, sinh năm 1982, địa chỉ: Xóm Y, xã Y, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ ngày 18/01/2024, Hầu Văn L điều khiển xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu đen đỏ từ nhà ra khu vực xóm P, xã P, gần Cầu T xóm P (đường rẽ vào xóm P) và dựng xe ở lề đường rồi đi lên đồi chè để phát cỏ chè. Đến khoảng 16 giờ, sau khi phát cỏ chè xong L phát hiện chiếc xe không còn ở vị trí để xe. Do tưởng người nhà lấy xe đi có việc nên đến ngày 19/01/2024, khi xác định xe bị trộm cắp, T mới đến Công an xã trình báo về sự việc mất xe nói trên.
Công an xã P, huyện P đã tiếp nhận và làm thủ tục chuyển toàn bộ hồ sơ đến Công an huyện P giải quyết theo thẩm quyền.
Tài liệu, chứng cứ thu thập đủ cơ sở xác định: Khoảng 14 giờ ngày 18/01/2024, Nguyễn XuânThành nhờ anh Ngô Xuân T2, sinh năm 1982; Trú tại: Xóm Y, xã Y, huyện P điều khiển xe môtô SIRIUS màu đỏ đen, BKS: 20N3-5378 chở đến xóm P, xã P chơi. Khi đến khu vực Cầu T thuộc xóm P thì rẽ vào tuyến đường bê tông bên tay trái theo hướng đi ra UBND xã P, đi khoảng 100m thì T nhìn thấy thấy 01(một) xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu đen, BKS: 20B1-128.64 đang dựng bên lề đường bên phải theo hướng đi của T. Do thấy khu vực này vắng người, không ai trông coi nên T đã nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe môtô này. Khi T2 điều khiển xe môtô đi qua vị trí dựng chiếc xe môtô khoảng 50m thì T đưa cho T2 70.000đ và bảo T2 đi về trước còn mình ở lại. T đi bộ quay lại vị trí dựng xe môtô rồi lấy trong túi quần bên phải ra 01(một) chiếc bấm móng tay loại có con dao dẹt gấp ở phần thân cắm vào ổ khoá điện khởi động chiếc xe môtô điều khiển xe đi ra đường T - Chợ M. Xuôi về hướng thành phố thái N1 vào khu vực hồ N (thuộc xã P, thành phố T) T dừng xe ở ven đường và tháo biểm kiểm soát xe môtô để lên khu vực giá để đồ ở giữa xe. Sau đó T quay lại đi theo hướng trung tâm thành phố T, đi được khoảng 01 km thì dừng lại cậy phần cốp xe môtô, trong cốp xe môtô có 01 (một) chiếc ví da màu đen, bên trong có ví có số tiền 1.700.000đ (một triệu, bẩy trăm nghìn đồng) gồm 03 tờ tiền mệnh giá 500.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và một số loại giấy tờ như: Đăng ký xe, giấy phép lái xe, thẻ CCCD... mang tên Hầu Văn L. T lấy số tiền 1.700.000đ, còn chiếc ví cùng toàn bộ giấy tờ xe và biển số, T để vào trong cốp. Sau đó, T điều khiển xe về thành phố T ăn uống tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 08 giờ ngày 19/01/2024, T gọi điện thoại và rủ anh T2 đến nhà ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1974; Trú tại: Tổ D, phường C, thành phố T chơi. T nói riêng với ông N chiếc xe môtô biển kiểm soát 20B1- 128.64 là của T cần tiền muốn bán nhưng T bị mất thẻ căn cước công dân nên không bán được, nhờ ông N mang xe bán giúp. Ông N tin đã đồng ý, mang thẻ căn cước công dân của ông N cùng xe môtô biển kiểm soát 20B1- 128.64 và đăng ký xe đến gặp ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1978; Trú tại: Tổ H, phường C, thành phố T giao dịch bán xe. Do không biết là xe do trộm cắp mà có nên ông T1 đã đồng ý mua với giá 5.000.000đ (năm triệu đồng). Ông N nhận tiền và đưa hết cho T. Nhận được tiền, T nhờ T2 điều khiển xe chở T về khu vực thành phố T mua đồ dùng hết 600.000đ rồi tiếp tục chở T đi về ngã ba B. T đưa cho anh T2 200.000đ (trả tiền xe ôm) rồi T bắt xe buýt lên huyện Đ chơi.
Ông T1 sau khi mua chiếc xe biển kiểm soát 20B1-128.64 đã rao bán trên mạng xã hội Facebook. Anh Hầu Văn L nhận ra xe của mình nên đã đến cửa hàng của ông T1 xác minh và trình báo sự việc đến Công an huyện P.
Khi biết sự việc bị bại lộ, T đã đến nhà ông N đưa số tiền còn lại là 3.900.000đ cho ông N, vay thêm ông N 1.100.000đ và nhờ ông N đem trả ông T1. Ngày 24/01/2024, T đến Công an huyện P làm việc và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 127/KL-HĐĐGTS ngày 31/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện phú L1 kết luận: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen bạc, BKS 20B1 – 128.64, xe cũ đã qua sử dụng có giá trị là 2.740.000 đồng.
Lời khai nhận của Nguyễn Xuân T phù hợp với: Đơn trình báo, Biên bản sự việc; Biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Ông Nguyễn Văn T1 đã nhận lại đủ số tiền 5.000.000đ. Nguyễn Xuân T đã khắc phục hậu quả trả lại anh Hầu Văn L số tiền 1.700.000đ và trả ông Nguyễn Văn N số tiền 1.100.000đ. Anh L, ông T1, và ông N không có đề nghị gì thêm về dân sự.
Vật chứng của vụ án:
- - 01 (một) xe môtô nhãn hiệu HONDA Wave màu đen, BKS: 20B1-128.64; 01 (một) Giấy đăng ký xe môtô số 012018; 01 (một) Giấy phép lái xe số U31962; 01 (một) Giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc TNDS của chủ xe môtô xe máy số 0277782; 01 (một) Thẻ CCCD số [...] mang tên Hầu Văn L đã được trả lại cho chủ sở hữu quản lý, sử dụng.
Bản cáo trạng số 34/CT-VKSPL ngày 31/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Nguyễn Xuân T về tội: “Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, nhân thân cũng như các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt Nguyễn Xuân T từ 12 đến 18 tháng tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã nhận lại tài sản không có yêu gì nên không đề nghị giải quyết.
Về án phí: Đề nghị bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật..
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có tranh luận gì.
Lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện P; Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Lương; Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, lời khai nhận tội của bị cáo đúng như nội dung cáo trạng đã truy tố và phù hợp với chính lời khai của bị cáo, người bị hại tại cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để khẳng định:
Hồi 15 giờ ngày 18/01/2024, tại xóm P, xã P, huyện P, tỉnh Thái Nguyên, Nguyễn Xuân T đã trộm cắp một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave màu đen, BKS 20B1 – 128.64 của anh Hầu Văn L có giá trị là 2.740.000 đồng và số tiền mặt là 1.700.000 đồng ở trong cốp xe, tài sản đã được thu hồi và trả lại cho chủ sở hữu.
Hành vi của Nguyễn Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội: "Trộm cắp tài sản”, theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Điều 173. Tội Trộm cắp tài sản
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm hại đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo, răn đe và phòng ngừa chung.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng vì bị cáo không có công việc, không có thu nhập.
[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Anh Hầu Văn L đã được nhận lại toàn bộ tài sản bị mất trộm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T1 đã nhận đủ số tiền 5.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường. Do vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Trong vụ án, Ngô Xuân T2, là người điều khiển xe chở T đến xã P sau đó cùng T đi xuống thành phố T, chở T từ thành phố T về huyện P; Nguyễn Văn N là người bán giúp T chiếc xe môtô biển kiểm soát 20B1-128.64 cho ông Nguyễn Văn T1. Tuy nhiên, anh T2, ông N, ông T1 đều không biết về hành vi phạm tội của T, không biết chiếc xe môtô T đem bán là do phạm tội mà có. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã không xử lý đối với Ngô Xuân T2, Nguyễn Văn N và Nguyễn Văn T1 là phù hợp.
[7] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
[8] Cần áp dụng Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.
[9] Về án phí: Cần buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 của Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tuyên bố: bị cáo Nguyễn Xuân T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 329, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
- Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân T với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận bị cáo Nguyễn Xuân T đã trả cho anh Nguyễn Văn T1 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.
- Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo (Nguyễn Xuân T) có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại (Hầu Văn L), người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (Nguyễn Văn T1) được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.
Xử phạt Nguyễn Xuân T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/3/2024.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Minh Lý |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Xuân T
