|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN TỈNH AN GIANG Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 11 tháng 6 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Lê Bảo Trúc và bà Châu Thanh Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Cù Thị Ngọc Hân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa:
Ông Hồ Thanh Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 6 năm 2024, tại phòng xử án thuộc trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 30/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 01/2024/HSST-QĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Chau Bun T (tên gọi khác: C), sinh ngày 23 tháng 9 năm 1997, tại xã N, huyện T, tỉnh An Giang.
Nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang, nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; dân tộc: Khmer; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau So V và bà Néang S; vợ: Néang Sóc Kươne (không đăng ký kết hôn, không còn sống chung; con: Chau Thươne B, sinh năm 2020; tiền án: không, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/9/2023 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa: Ông Hà Quang V1, sinh năm 1971 là Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm T2, tỉnh An Giang.
- Bị hại: Nguyễn Phương V2, sinh năm 2006, nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang.
- Người đại diện hợp pháp của bị hại: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1992, nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang.
2
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Trương Minh H, sinh năm 1983 – Trợ giúp viên pháp lý – Thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T2.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1992, nơi cư trú: ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang.
- Người làm chứng: Neáng Thị Cẩm T1 và Nguyễn Phương L.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 30 phút, ngày 06/9/2023, sau khi uống rượu, bị cáo nhớ về chuyện bị hại gây thương tích cho mình trước đó nhưng không hỗ trợ tiền điều trị. Bị cáo chuẩn bị một con dao, loại dao Thái Lan cán vàng, bỏ vào túi quần bên phải, đi đến nhà bị hại tại ấp T, xã N, huyện T, tỉnh An Giang. Đến nơi, thấy bị hại đang nằm ngủ trên giường, bị cáo ngồi bên phải bị hại nói “Tiền bạc tính sao mày?”, bị hại ngồi dậy nhìn thấy bị cáo, bị cáo tức giận, dùng tay phải lấy con dao đã chuẩn bị sẵn từ trong túi quần ra, đâm một nhát vào hông phải của bị hại, bị hại đứng dậy, nhảy xuống giường với mục đích bỏ chạy đã làm lưỡi dao dính lại vùng hông, bị hại trượt ngã vào thanh võng làm bị thương vùng trán. Về phía bị cáo vẫn cầm phần cán dao và bỏ đi về nhà, trên đường đi, bị cáo đã nén bỏ cán dao, không thu hồi được. Cùng ngày, bị cáo đến Công an xã N đầu thú. Riêng bị hại, đã được đưa đi điều trị ngay khi xảy ra sự việc và xuất viện vào ngày 12/9/2023.
Vật chứng thu giữ gồm:
- - 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, mũi nhọn dài 11cm, trên lưỡi dao có dòng chữ KWI-BRAND STAINLESS STEEL, đã gãy khỏi cán dao.
- - 01 (một) quần jean, loại quần sọt, màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ "On”, mặt trước ống quần bên phải có chữ "IC” màu trắng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.
Về giám định thương tích:
Căn cứ Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 640/23/KLTTCT-TTPY ngày 07/9/2023 và Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống bổ sung số 640BS/23/KLTTCT-TTPY ngày 30/11/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh T2 đối với bị hại Nguyễn Phương V2 như sau:
- - Vết thương vùng hông phải nằm ngang dài 6cm, bờ sắc gọn. Gây thấu bụng, thủng manh tràn 02 lổ, đã phẩu thuật khâu lỗ thủng manh tràng qua nội soi, đưa hồi tràng ra da. Đứt cơ chéo bụng ngoài đã khâu cơ. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 45%.
3
- - Sẹo trán trái kích thước 0,5cm x 0,2cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích dây nên là 3%.
Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên của bị hại V2 là 47%.
Về giám định độ tuổi của bị hại:
Căn cứ Kết luận giám định độ tuổi trên người sống số 02/KLGĐĐT-TTPYCT ngày 03/01/2024 đối với Nguyễn Phương V2, của Trung tâm Pháp y thành phố C: Tại thời điểm giám định, ngày 03/01/2024, V2 có độ tuổi từ 17 năm 03 tháng đến 17 năm 09 tháng.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi, bị hại, người làm chứng có lời khai phù hợp với lời khai của bị cáo, phù hợp với nội dung vụ án về hành vi của bị cáo.
Ngoài ra, bị hại còn yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, gồm các khoản: Thuê xe chuyển viện cấp cứu T3 ngày 06/9/2023: 1.200.000 đồng; chi phí điều trị theo hóa đơn bán hàng ngày 23/02/2023: 13.140 đồng; chi phí điều trị theo hóa đơn thu tiền ngày 12/9/2023: 502.448 đồng; thuê người nuôi bệnh 06 ngày (ngày 06/9/2023 đến 12/9/2023): 1.500.000 đồng; thuê xe xuất viện L - T: 800.000 đồng; mua vật dụng y tế sử dụng sau khi xuất viện, từ ngày 23/9/2023 đến 10/12/2023: 16.965.000 đồng; mua thuốc uống hàng ngày theo toa bác sĩ từ ngày 23/9/2023 đến ngày 10/12/2023: 4.620.000 đồng; thuê xe tái khám ngày 19/9/2023: 750.000 đồng; tiền công lao động 06 tháng (ngày 06/9/2023 đến 06/3/2024) x 250.000 đồng/ngày: 45.000.000 đồng; tổn thất tinh thần: 18.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Nguyễn Thị Tuyết M cho rằng: Bà đã lo tiền điều trị cho bị hại 24.873.000 đồng, yêu cầu bị hại trả lại.
Trần Văn B, Trần Văn V3, S, Trương Thanh H1 Cáo trạng số 30/CT-VKSTT-HS ngày 03/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa,
Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng, đồng ý theo Quyết định truy tố của Viện kiểm sát, xác định chưa bồi thường cho bị hại, đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 87.000.000 đồng, thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cãi.
Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại (bà M) yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, chi phí người nuôi bệnh, mất thu nhập của bị cáo và người nuôi bệnh, tổn thất tinh thần đã liệt kê theo Bảng kê chi phí thiệt hại, tổng số tiền là 87.635.000 đồng nhưng làm tròn, chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 87.000.000 đồng; yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà M rút lại yêu cầu bị hại trả lại cho bà số tiền 24.837.000 đồng bà đã bỏ ra chi phí điều trị cho bị hại, bà sẽ yêu cầu bị hại trả khi nào bị cáo bồi thường cho bị hại.
4
Người làm chứng – T1 có mặt, giữ nguyên lời khai đã trình bày trong hồ sơ. Người làm chứng – L vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều có lời khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát công bố luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo, là người dân tộc sinh sống vùng kinh tế khó khăn, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích, xử phạt bị cáo từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù. Áp dụng Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phòng bì màu trắng bên trong có chứa 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài 11cm, mũi nhọn, cán dao đã bị gãy khỏi lưỡi dao, trên lưỡi dao có dòng chữ "KWI-BRAND STAINLESS STEEL”; 01 (một) cái quần jean, loại quần sọt màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ "On”, mặt trước ống quần bên phải có chữ "IC” màu trắng.
Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không có ý kiến tranh luận đối với nội dung luận tội của Kiểm sát viên. Bị cáo nói lời sau cùng, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Người bào chữa cho bị cáo trình bày tranh luận: Thống nhất luận tội của Kiểm sát viên về việc xác định bị cáo phạm tôi cố ý gây thương tích theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã nêu. Tuy nhiên, khi xem xét áp dụng hình phạt, đề nghị Hội đồng xét xử suy xét đến động cơ bị cáo thực hiện hành vi là do bị hại hứa hẹn bồi thường vì đã gây thương tích cho bị cáo trước đó nhưng không thực hiện. Tại phiên tòa, bị cáo đã tự nguyện bồi thường theo yêu cầu của bị hại nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó, bị cáo đã đủ điều kiện áp dụng hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng theo quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người dân tộc Khmer, đang sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bị cáo. Về trách nhiệm bồi thường, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét yêu cầu nào của bị hại là phù hợp với quy định và có hóa đơn rõ ràng để xem xét chấp nhận.
Kiểm sát viên tranh luận: Giữ nguyên quan điểm luận tôi, không đồng ý đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự vì từ khi xảy ra sự việc đến nay, bị cáo không thực hiện tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả. Từ đó, không đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
5
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Nên, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Người làm chứng L đã được tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, giấy triệu tập tham dự phiên tòa đúng quy định nhưng tại phiên tòa vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của L không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ các Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
Về nội dung:
[3] Về hành vi phạm tội:
Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của bị hại và những người làm chứng. Ngoài ra, còn phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường đã lưu, kết quả giám định tổn thương cơ thể của bị hại nên đủ cơ sở xác định: Vì tức giận việc bị hại từng gây thương tích cho mình nhưng không hỗ trợ tiền điều trị, bị cáo đã dùng 01 con dao loại dao Thái Lan, lưỡi sắc, nhọn, đâm vào vùng hông phải của bị hại gây thương tích, khi bị hại bỏ chạy, bị hại đã té ngã vào thanh võng gây thương tích vùng trán. Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên đối với bị hại là 47%.
Sức khỏe là vốn quý của mỗi cá nhân, là nền tảng để mỗi người lao động, phát triển, được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi dùng dao sắc, nhọn là hung khí nguy hiểm, tấn công vào bị hại, gây thương tích cho bị hại là là xâm phạm quyền bất khả xâm phạm sức khỏe của người khác, làm tổn hại sức khỏe của bị hại, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.
Vì vậy, đã đủ yếu tố cấu thành tội Cố ý gây thương tích được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn truy tố bị cáo Chau Bun T về tội Cố ý gây thương tích là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cãi; đầu thú, là người dân tộc Khmer, sinh sống vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên cần xem xét
6
giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Trong hồ sơ không thể hiện, tại phiên tòa bị cáo cũng xác định chưa bồi thường cho bị hại hay có hành vi tự nguyện sửa chữa, khắc phục hậu quả, vì vậy tranh luận của người bào chữa cho rằng cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó đủ điều kiện áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự là không có cơ sở chấp nhận.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[5] Về áp dụng hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, được thực hiện với lỗi cố ý, chẳng những xâm phạm đến sức khỏe bị hại gây thương tích lớn, mà còn gây hoang mang trong đời sống nhân dân, ảnh hưởng đến tình hình trị an của địa phương. Do đó, cần phải có mức hình phạt nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo tự nhận thức được sai lầm, giáo dục bị cáo. Bên cạnh đó, còn có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội.
[6] Về vật chứng vụ án:
- - 01 (một) phòng bì màu trắng bên trong có chứa 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài 11cm, mũi nhọn, cán dao đã bị gãy khỏi lưỡi dao, trên lưỡi dao có dòng chữ "KWI-BRAND STAINLESS STEEL”, là công cụ bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội, cần tịch thu, tiêu hủy.
- - 01 (một) cái quần jean, loại quần sọt màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ "On”, mặt trước ống quần bên phải có chữ "IC” màu trắng, không còn giá trị sử dụng, cân tịch thu, tiêu hủy.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Bị hại và đại diện hợp pháp của bị hại (bà M) yêu cầu bị cáo bồi thường các khoản chi phí điều trị thương tích, chi phí người nuôi bệnh, mất thu nhập của bị cáo và người nuôi bệnh, tổn thất tinh thần cho bị hại, đã liệt kê theo Bảng kê chi phí thiệt hại (bút lục 110), tổng số tiền là 87.635.000 đồng nhưng chỉ yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 87.000.000 đồng. Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 87.000.000 đồng cho bị cáo. Xét, các khoản yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm mà bị hại yêu cầu và việc bị cáo đồng ý bồi thường là sự tự nguyện của các bên, không trái quy định pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên có cơ sở công nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo và bị hại. Bị cáo có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 87.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
7
Bà M rút lại yêu cầu bị hại trả số tiền 24.837.000 nên không xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với nghĩa vụ bồi thường. Nhưng bị cáo là người dân tộc Khmer, sinh sống tại xã N, huyện T, tỉnh An Giang, là xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên bị cáo được miễn án phí dân sự sơ thẩm 4.350.000 đồng theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố bị cáo Chau Bun T (Chiêu) phạm tôi “Cố ý gây thương tích”.
Xử phạt bị cáo Chau Bun T (Chiêu): 05 (năm) năm tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị bắt tạm giữ ngày 06/9/2023 (ngày không sáu, tháng chín, năm hai không hai ba).
Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) phòng bì màu trắng bên trong có chứa 01 (một) lưỡi dao bằng kim loại màu trắng, dài 11cm, mũi nhọn, cán dao đã bị gãy khỏi lưỡi dao, trên lưỡi dao có dòng chữ "KWI-BRAND STAINLESS STEEL"; 01 (một) cái quần jean, loại quần sọt màu đen, mặt trước ống quần bên trái có chữ "On”, mặt trước ống quần bên phải có chữ "IC” màu trắng (theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng lập ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan CSĐT – Công an huyện T và Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn.
Căn cứ các Điều 548, 590 Bộ luật Dân sự;
Bị cáo Chau Bun T (C) có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Nguyễn Phương V2 số tiền 87.000.000 (tám mươi bảy triệu) đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự.
Căn cứ Điều 135, 136 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
8
Bị cáo Chau Bun T (C) phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Chau Bun T (Chiêu) được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Đặng Thị Tâm |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 11/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 05 năm tù
