TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/DS-ST
Ngày 11 tháng 6 năm 2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Oanh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Thành Loan
- Bà Hoàng Thị Kim Oanh
Thư ký phiên toà: ông Thân Văn Đông- Thư ký Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: ông Nguyễn Văn Đông - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11/6/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hiệp Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 339/2023/TLST- DSST ngày 18/12/2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 4 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số 45/2024/QĐST-DS ngày 02 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP V (V1).
Địa chỉ trụ sở: Số H L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức danh: Chủ tịch Hội đồng Quản trị V1.
Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng:
Công ty TNHH M (G1)
Địa chỉ: Tầng E, khối E, Tòa nhà C, số B C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Huyền T, chức vụ giám đốc
1
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Đức L, chức vụ: Phó giám đốc theo văn bản ủy quyền số 01/2023/GUQ-GLX ĐT ngày 25/10/2023 của Giám đốc công ty TNHH M.
Người đại diện theo ủy quyền lại:
Ông Nguyễn Văn D1, sinh năm 1997- chuyên viên xử lý nợ (có mặt)
Địa chỉ: Số B, đường N, phường N, thành phố B
Bị đơn:
1. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1980(có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: TDP V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang
Hiện đang cải tạo tại đội 6, K, Trại giam S, xã C, huyện B, thành phố Hà Nội.
2. Chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979(có mặt)
Địa chỉ: TDP V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề 27/10/2023, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời khai tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn do ông Nguyễn Văn D1 trình bày:
Ngày 29/12/2023, Ngân hàng TMCP V (V1) và Công ty TNHH M (GalaxyDT) đã ký kết Hợp đồng mua bán nợ Số 01/2023/VPB-GALAXY và Phụ lục đính kèm. Theo đó, V1 đồng ý bán và GalaxyDT đồng ý mua (các) khoản nợ của khách hàng vay là ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1, bao gồm các khoản nợ gốc, nợ lãi, nợ lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) phát sinh theo các Hợp đồng tín dụng/Hợp đồng cho vay mà ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 đã ký kết với V1. Cụ thể như sau:
Hợp đồng cho vay hạn mức số: LN2011032972625 ngày 09/11/2020, khế ước nhận nợ ngày 10/11/2020 và phụ lục hợp đồng số LN2011032972625/PLHĐ/01 ngày 19/11/2021
- + Số tiền vay: 484.000.000 đồng (Bằng chữ: Bốn trăm tám mươi tư triệu đồng);
- + Thời hạn vay: 12 tháng, tính từ ngày giải ngân 09/11/2020
- + Mục đích sử dụng vốn: Vay BSVLĐ theo hạn mức kinh doanh VLXD
- + Trả nợ gốc, trả nợ lãi:
- + Lãi suất: Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 11.49% (Một năm được tính là 365 ngày). Lãi suất quá hạn bằng 150% mức lãi suất cho vay
2
trong hạn. Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền chậm trả lãi bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả.
Để đảm bảo cho khoản vay ông H bà L1 đã thế chấp Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 81 có địa chỉ tại: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 101906;
Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ dư nợ của khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn theo nội dung các hợp đồng nêu trên. Sau khi khoản nợ bị chuyển quá hạn, V1 và sau đó là GALAXYDT đã nhiều lần đôn đốc, tạo điều kiện nhưng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 vẫn không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho GALAXYDT. Tạm tính đến ngày 11/6/2024 ông H, bà L1 còn nợ GalaxyDT tổng số tiền 635.402.931 đồng trong đó nợ gốc là 479.600.00đồng, L2 trong hạn 155.252080đồng; lãi quá hạn: 550.851đồng.
GalaxyDT yêu cầu Tòa án giải quyết
- Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 phải trả cho GalaxyDT tổng số tiền tính đến ngày 11/6/2024 tổng số tiền 635.402.931 đồng trong đó nợ gốc là 479.600.000đồng, L2 trong hạn 155.252.080đồng; lãi quá hạn: 550.851đồng và toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm tính đến ngày ông H bà L1 trả hết nợ cho GalaxyDT theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký kết.
- Trong trường hợp ông H, bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì GalaxyDT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất và tìa sản gắn liền với đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 81 có địa chỉ tại: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang(nay là TDP V, thị trấn B) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 101906; số vào sổ cấp GCN: CS-00236/Sổ ĐC:Q01, Tr 141 ngày 27/08/2019 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 4099/2019 ngày 04/11/2019 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác (sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 4099/2019 ngày 04/11/2019) ký ngày 9/112020 tại Văn phòng C
3
Bị đơn ông Nguyễn Văn H trình bày
Năm 2020 do thiếu vốn làm ăn ngày 09/11/2020 ông có ký hợp đồng tín dụng vay của V1 số tiền gốc là 484.000.000đồng, lãi xuất 11,49%/năm, thời hạn vay là 12 tháng, mục đích vay để mua xe ô tô. Khi vay cả hai vợ chồng đều ký nhận. Để đảm bảo cho khoản vay gia đình ông có thế chấp thửa đất số 245, tờ bản đồ số 81 có địa chỉ tại: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 101906. Do dịch bệnh covid nên ông không làm ăn được dẫn đến không trả được nợ. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông trả nợ ông đồng ý nhưng ông đang đi cải tạo và kinh tế khó khăn nên ông xin được trả dần. Trường hợp ông không thanh toán trả được nợ cho Ngân hàng ông đồng ý cho Ngân hàng phát mại tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Ông xin vắng mặt tại phiên tòa.
Bà Nguyễn Thị L1 trình bày đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nay là GalalyDT nhưng do gia đình gặp khó khăn nên bà xin được trả dần tiền gốc và xin ngân hàng miễn lãi. Trường hợp gia đình bà không trả được nợ bà đồng ý phát mại tài sản để trả nợ cho GalaxyDT.
Tại phiên tòa đại diện theo ủy quyền của GalaxyDT vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị Tòa án giải quyết theo pháp luật. Yêu cầu bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng.
Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Hiệp Hòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật trong suốt quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Nguyên đơn, bị đơn chấp hành đúng quy định pháp luật.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 317; 318; 320; 351; 463; 466; 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự. Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của GalaxyDT.
Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 phải có nghĩa vụ trả
4
GALAXYDT số tiền dư nợ tính đến ngày 11/6/2024: tổng số tiền 635.402.931 đồng. Trong đó nợ gốc là 479.600.000đồng, lãi trong hạn 155.252.080đồng; lãi quá hạn: 550.851đồng và toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm tính đến ngày ông H bà L1 trả hết nợ cho GalaxyDT theo đúng mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay hạn mức số: LN2011032972625 ngày 09/11/2020, khế ước nhận nợ ngày 10/11/2020 và phụ lục hợp đồng số LN2011032972625/PLHĐ/01 ngày 19/11/2021 kể từ ngày 11/6/2024 đến ngày trả hết nợ.
Trong trường hợp ông H, bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì GalaxyDT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất và tìa sản gắn liền với đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 81 có địa chỉ tại: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang( nay là TDP V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 101906; số vào sổ cấp GCN: CS-00236/Sổ ĐC:Q01, Tr 141 ngày 27/08/2019 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 4099/2019 ngày 04/11/2019 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác (sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 4099/2019 ngày 04/11/2019) ký ngày 9/112020 tại Văn phòng C.
Về án phí và chi phí tố tụng: Áp dụng Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 phải chịu án phí DSST: 29.416.000đồng và hoàn trả Galaxy DT số tiền 2000.000đồng chi phí thẩm định tại chỗ.
Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 13.920.000 đồng cho Galaxy DT theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003661 ngày 18/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hiệp Hòa.
Báo quyền kháng cáo cho các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1].Về sự vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Ông H đã có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiếp tục xét xử vụ án là có căn cứ.
5
[2]. Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Tòa án xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn ông H, bà L1 đang sinh sống tại huyện H nên Toà án nhân dân huyện Hiệp Hòa có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a, khoản 1, điều 35; khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của GalaxyDT yêu cầu ông H, bà L1 thanh toán trả số tiền còn nợ thì thấy ngày 10/11/2020 V1 và ông H, bà L1 có ký Hợp đồng cho vay hạn mức số: LN2011032972625 ngày 09/11/2020, khế ước nhận nợ ngày 10/11/2020 và phụ lục hợp đồng số LN2011032972625/PLHĐ/01 ngày 19/11/2021. Quá trình thực hiện hợp đồng ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ dư nợ của khoản vay đã chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất quá hạn theo nội dung các hợp đồng nêu trên. Ông H và bà L1 đều thừa nhận có ký kết hợp đồng và đồng ý trả nợ nhưng do khó khăn xin được trả gốc, xin miễn lãi nhưng G không đồng ý. Nay Galaxy DT khởi kiện yêu cầu ông H, bà L1 phải trả cho GalaxyDT tổng số tiền tạm tính đến ngày 11/6/2024 là: 635.402.931 đồng; trong đó nợ gốc là 479.600.000đồng, L2 trong hạn 155.252.080đồng; lãi quá hạn: 550.851đồng và toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm tính đến ngày ông H bà L1 trả hết nợ cho GalaxyDT theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong các Hợp đồng đã ký kết là có căn cứ cần được chấp nhận.
[4] Đối với yêu cầu của Galaxy DT yêu cầu phát mại tài sản để đảm bảo thi hành án trường hợp ông H, bà L1 không trả được nợ thì thấy: Để đảm bảo cho khoản vay ông H bà L1 đã thế chấp Toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 81 có địa chỉ tại: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 101906. Ông H, bà L1 đồng ý với yêu cầu của Galaxy DT nên cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b khoản 1 Điều 39; Điều 227, Điều 228, Điều 271; Điều 273 và Điều 278 của Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ Điều 317; 318; 320; 351; 463; 466; 468; Điều 470 của Bộ luật dân sự. Điều 27; Điều 37 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; khoản 2 Điều 95; Điều 98 của Luật các tổ chức tín dụng.
6
Căn cứ Nghị quyết số 326/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của GalaxyDT.
Buộc ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị L1 phải có nghĩa vụ liên đới trả GalaxyDT số tiền dư nợ tính đến ngày 11/6/2024 là 635.402.931 đồng. Trong đó nợ gốc là 479.600.000đồng, lãi trong hạn 155.252.080đồng; lãi quá hạn: 550.851đồng. Kể từ sau ngày xét xử sơ thẩm (12/6/2024) ông H, bà L1 còn phải liên đới trả toàn bộ lãi phát sinh kể từ ngày xét xử sơ thẩm đến ngày ông H bà L1 trả hết nợ cho GalaxyDT theo đúng mức lãi suất thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay hạn mức số: LN2011032972625 ngày 09/11/2020, khế ước nhận nợ ngày 10/11/2020 và phụ lục hợp đồng số LN2011032972625/PLHĐ/01 ngày 19/11/2021.
Trong trường hợp ông H, bà L1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì GalaxyDT có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án kê biên phát mại tài sản bảo đảm là Toàn bộ quyền sử dụng đất và tìa sản gắn liền với đất tại thửa đất số 245, tờ bản đồ số 81 có địa chỉ tại: Thôn B, xã B, huyện H, tỉnh Bắc Giang (nay là TDP V, thị trấn B, huyện H, tỉnh Bắc Giang) được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 101906; số vào sổ cấp GCN: CS-00236/Sổ ĐC:Q01, Tr 141 ngày 27/08/2019 theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác số 4099/2019 ngày 04/11/2019 và Hợp đồng sửa đổi, bổ sung hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của người khác (sửa đổi bổ sung Hợp đồng thế chấp số 4099/2019 ngày 04/11/2019) ký ngày 9/112020 tại Văn phòng C.
Về án phí: ông H và bà L1 phải liên đới chịu án phí dân sự sơ thẩm là 29.416.000đồng. Hoàn trả tiền tạm ứng án phí là 13.920.000 đồng cho GalaxyDT theo biên lai thu tạm ứng án phí lệ phí Tòa án số 0003661 ngày 18/12/2023
Về chi phí tố tụng: ông H1 và bà L1 phải hoàn trả GalaxyDT số tiền 2.000.000đồng chi phí thẩm định tại chỗ.
Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân
7
sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7, 7a, 7b và 9- Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30- Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký) Đào Thị Oanh |
8
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 11/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HIỆP HÒA, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng V - Nguyễn Văn H
