|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 10 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nam
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Cao Thế và ông Văn Anh Trình
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Lợi, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Triều, Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 30/2024/TLST - HS ngày 16 tháng 8 năm 2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 8 năm 2024 đối với:
Bị cáo Nguyễn Thành T; sinh ngày 20 tháng 10 năm 2004, tại huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở hiện nay: thôn H, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Trình độ học vấn: 11/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Nguyễn Thành L, sinh năm 1977 và con bà: Nguyễn Thị T1, sinh năm: 1982; Tiền án: 01 tiền án, ngày 06/9/2023, Nguyễn Thành T bị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù giam theo Bản án số 35/2023/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: không.
Quá trình nhân thân: Ngày 11/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 04 tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản” theo Bản án số 03/2022/HSST; ngày 13/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 04/2022/HSST.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/5/2024 tại Nhà tạm giữ Công an huyện Q cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Lê Thị A, sinh năm 1973, địa chỉ: Thôn H, xã D, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 04/5/2024, Nguyễn Thành T đang ở nhà mình tại thôn H, xã D, Quảng Ninh, Quảng Bình thì thấy nhà bà Lê Thị A ở đối diện cùng thôn, không có ai ở nhà nên T nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài cá nhân. T vào nhà bếp lấy 01 (một) cái búa và 01 (một) cái đục rồi đi bộ sang nhà bà A, thấy trong nhà tắt đèn, cửa cổng khoá, T nhảy hàng rào phía trước vào trong sân. Thấy cửa chính bị khoá, T dùng đục và búa mang theo để cạy cửa. Sau khi cạy được cửa chính, T đi vào trong nhà, đến phòng ngủ thì thấy cửa phòng ngủ bị khoá nên T leo lên đẩy ô thông gió ở trên cửa rồi chui qua ô thông gió để vào bên trong phòng ngủ, tìm đến tủ đựng quần áo rồi dùng tay giật mạnh mở cửa tủ ra. T lục tìm tài sản thì phát hiện bên trong ống túi một cái áo của bà An treo trong tủ có một xấp tiền. T lấy toàn bộ số tiền này rồi cất giấu vào túi quần sau đó mở cửa phòng ngủ, đi ra lấy đục và búa rồi đi theo đường cũ trở về nhà mình. Khi về nhà, T cất búa và đục rồi kiểm đếm số tiền lấy trộm được của bà A là 11.750.000 đồng (mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng N với nhiều mệnh giá khác nhau. Toàn bộ số tiền này, T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Về vật chứng: Ngày 07/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện Q khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành T tại thôn H, xã D đã thu giữ, tạm giữ:
- + 01(một) cái đục dài 22,5cm, gồm phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 13cm, phần rộng nhất là 02cm, cán gỗ màu nâu hình trụ tròn dài 9,5 cm, đường kính tiết diện 3,5 cm. Đục đã qua sử dụng.
- + 01(một) cái búa có tổng chiều dài 36 cm, phần đầu búa làm bằng kim loại màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (9x3,5x3)cm và phần cán làm bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 33cm, đường kính tiết diện 02cm, cuối phân cán được quấn bằng dây cao su màu đen một đoạn dài 15,5 cm. Búa đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Bà Lê Thị A yêu cầu Nguyễn Thành T phải trả lại cho bà A số tiền 11.750.000 đồng (mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) và không có yêu cầu gì thêm.
Tại bản Cáo trạng số: 28/CT-VKS ngày 16 tháng 8 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình truy tố bị cáo Nguyễn Thành T ra trước Tòa án nhân dân huyện Quảng Ninh để xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh đã phát biểu lời luận tội, chứng minh và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện; Giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo T từ 12 đến 18 tháng tù.
Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy:
- + 01(một) cái đục dài 22,5cm, gồm phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 13cm, phần rộng nhất là 02cm, cán gỗ màu nâu hình trụ tròn dài 9,5 cm, đường kính tiết diện 3,5 cm. Đục đã qua sử dụng.
- + 01(một) cái búa có tổng chiều dài 36 cm, phần đầu búa làm bằng kim loại màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (9x3,5x3)cm và phần cán làm bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 33cm, đường kính tiết diện 02cm, cuối phân cán được quấn bằng dây cao su màu đen một đoạn dài 15,5 cm. Búa đã qua sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các Điều 584, 585, 586 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự, đề nghị tuyên buộc bị cáo T trả lại cho bị hại số tiền 11.750.000 đồng (mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
Án phí Hình sự sơ thẩm bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra, cơ quan Truy tố đã thực hiện đúng chức năng, thẩm quyền, ban hành các quyết định tố tụng theo đúng trình tự pháp luật quy định.
[2] Xem xét hành vi của bị cáo bị truy tố:
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thành T đã khai, thừa nhận toàn bộ hành vi thực hiện như sau: Vào khoảng 19 giờ 00 ngày 04/5/2024, Nguyễn Thành T thấy nhà bà Lê Thị A ở đối diện cùng thôn, không có ai ở nhà nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản để có tiền tiêu xài cá nhân. T lấy 01 cái búa và 01 cái đục tại nhà mình mà T đã mua trước đó, rồi đi bộ sang nhà bà A. T dùng đục và búa mang theo cạy mở được cửa chính nhà bà A, đi vào trong nhà. Đến phòng ngủ thấy cửa phòng ngủ bị khoá nên T leo lên đẩy ô thông gió phía trên cửa rồi chui qua ô thông gió, vào bên trong phòng ngủ, tìm đến tủ đựng quần áo, dùng tay giật mạnh mở cửa tủ ra. T lục tìm tài sản và lấy toàn bộ số tiền mà bà A cất bên trong ống túi một cái áo treo trong tủ. T cất giấu tiền vào túi quần. Sau đó, mở cửa phòng ngủ đi ra, lấy đục và búa rồi đi theo đường cũ trở về nhà mình. Về tới nhà, T kiểm đếm số tiền lấy trộm được của bà A là 11.750.000 đồng (mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng) tiền ngân hàng N với nhiều mệnh giá khác nhau. Toàn bộ số tiền này, T đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Nguyễn Thành T là người có năng lực hành vi trách nhiệm hình sự; đã cố tình, lợi dụng sơ hở của chủ tài sản, lén lút thực hiện hành vi trộm cắp, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác mà pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo đã đủ yêu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã truy tố và Bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa đối với bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Thành T có 01 tiền án, ngày 06/9/2023, bị Toà án nhân dân huyện Quảng Ninh xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 35/2023/HS-ST về tội “Trộm cắp tài sản”, chưa được xóa án tích nhưng tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp là “tái phạm”, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện ăn năn hối cải, vì vậy cần xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để lượng hình phạt.
[4] Xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và áp dụng hình phạt:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, làm mất trật tự, trị an tại địa phương, gây bất bình cho quần chúng nhân dân; ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống, gây tâm lý hoang mang cho bị hại. Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án và đã đi chấp hành án, tuy nhiên vẫn không lấy làm bài học cho mình để cải tạo bản thân tốt; không kiếm việc làm chân chính để có thu nhập, mà sau khi ra tù bị cáo lại tiếp tục phạm tội, lấy tài sản của người khác để thỏa mãn nhu cầu tiêu xài cá nhân. Điều này thể hiện Nguyễn Thành T có ý thức tuân thủ pháp luật, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức kém, cần phải có hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành người có ích cho xã hội, như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp.
[5] Về xử lý vật chứng:
- + 01(một) cái đục dài 22,5cm, gồm phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 13cm, phần rộng nhất là 02cm, cán gỗ màu nâu hình trụ tròn dài 9,5 cm, đường kính tiết diện 3,5 cm. Đục đã qua sử dụng.
- + 01(một) cái búa có tổng chiều dài 36 cm, phần đầu búa làm bằng kim loại màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (9x3,5x3)cm và phần cán làm bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 33cm, đường kính tiết diện 02cm, cuối phân cán được quấn bằng dây cao su màu đen một đoạn dài 15,5 cm. Búa đã qua sử dụng.
Theo lời khai của bị cáo và bản lý lịch bị can xác nhận: Bố, mẹ và em trai của bị cáo đều đi làm ăn xa, không có mặt tại địa phương, nhà hiện chỉ có bị cáo ở và sinh sống. Các vật chứng trên bị cáo khai là của bị cáo mua về để sử dụng trong nhà là có cơ sở. Hiện vật chứng không có giá trị sử dụng, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để tịch tiêu hủy các công cụ mà bị cáo dùng để phạm tội này.
[6] Về dân sự: Bị hại Lê Thị A yêu cầu bị cáo T bồi thường số tiền 11.750.000 đồng. Căn cứ Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự, nhận thấy yêu cầu của bị hại là có cơ sở, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho bị hại Lê Thị A.
[7] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268, khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 298; khoản 1, 4 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Điều 584, 585, 586 và Điều 357 của Bộ luật Dân sự; Điều 23, 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án; Tuyên xử:
- Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành T phạm tội “trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành T 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam 10/5/2024.
- Về xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy các vật chứng sau:
- + 01(một) cái đục dài 22,5cm, gồm phần lưỡi bằng kim loại màu trắng, dài 13cm, phần rộng nhất là 02cm, cán gỗ màu nâu hình trụ tròn dài 9,5 cm, đường kính tiết diện 3,5 cm. Đục đã qua sử dụng.
- + 01(một) cái búa có tổng chiều dài 36 cm, phần đầu búa làm bằng kim loại màu đen dạng hình hộp chữ nhật kích thước (9x3,5x3)cm và phần cán làm bằng kim loại màu đen, hình trụ tròn dài 33cm, đường kính tiết diện 02cm, cuối phân cán được quấn bằng dây cao su màu đen một đoạn dài 15,5 cm. Búa đã qua sử dụng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 16/8/2024 giữa cơ quan Công an huyện Q và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình.
- Về trách nhiệm dân sự:
Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải bồi thường cho bị hại Lê Thị A số tiền 11.750.000 đồng (mười một triệu bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
- Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí Hình sự và Dân sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Thành T phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm và phải chịu 300.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm để sung vào Ngân sách Nhà nước.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (10/9/2024).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Trần Thị Nam |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH về vụ án hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG NINH, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Thiện bị truy tố về tội trộm cắp tài sản
