|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 09-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Duyên.
Ông Nguyễn Thanh Phong.
- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hồng Xuyến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê Xuân Thịnh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 38/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 31/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Phan Văn P, sinh năm 1999. Nơi sinh: huyện T, tỉnh Bến Tre. Nơi thường trú: Số nhà C, Khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: Lớp 6/12. Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Con ông Phan Văn T, sinh năm: 1975 (còn sống) và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1980 (còn sống). Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án: Có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 16/2021/HSST ngày 20/4/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre; Bản án số 70/2022/HSST ngày 16/12/2022 của Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre. Tiền sự: Không.
Nhân thân: Ngày 20/4/2021 bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về “Tội trộm cắp tài sản”; Ngày 16/12/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 (một) năm tù về “Tội trộm cắp tài sản” (chưa được xóa án tích).
Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 03/3/2024. Sau đó, bị tạm giam từ ngày 22/3/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại tòa.
- Người chứng kiến:
- Nguyễn Văn B, sinh năm 1965; Nơi cư trú: Số nhà C, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
- Trần Văn C, sinh năm: 1986; Nơi cư trú: Số nhà B, ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre (có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lúc 12 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Phan Văn P điều khiển xe mô tô không gắn biển số lưu thông trên Đường D hướng từ thị trấn T đi Ủy ban nhân dân xã M. Khi đến ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre thì bị lực lượng Công an xã M tuần tra phát hiện nghi vấn nên dừng xe kiểm tra và phát hiện phía ba ga giữa của xe mô tô không gắn biển số có để một ba lô, kiểm tra bên trong phát hiện tại ngăn kéo giữa của ba lô có một khẩu trang màu trắng được cuộn tròn, bên trong khẩu trang có một đoạn ống thủy tinh hình mỏ vịt và một đoạn ống hút màu trắng được quấn băng keo đen vào khẩu trang, được hàn kín hai đầu chứa tinh thể nghi là ma túy. Ngăn ngoài cùng của ba lô phát hiện nhiều dụng cụ nghi là để sử dụng ma túy như: nắp nhựa màu đỏ được đục hai lỗ tròn, một hộp quẹt gas, một cây tiêm bằng kim loại, một đoạn ống nhựa một đầu nhọn. Qua làm việc P thừa nhận khẩu trang chứa nỏ thủy tinh và đoạn ống nhựa chứa tinh thể là ma túy, P vừa được người bạn tên P1 (không rõ địa chỉ, lai lịch cụ thể) cho ở khu vực nhà thờ ở ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre vào lúc khoảng 09 giờ cùng ngày. P cất giấu trong ba lô để dành sử dụng. Lực lượng công an xã tiến hành giữ nguyên hiện trường và báo về Công an huyện đến để lập biên bản quả tang đối với P.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) ba lô màu xanh đen ghi chữ nike, loại có hai quai đeo của Phan Văn P để ở ba ga giữa xe đang điều khiển.
- 01 (một) khẩu trang bằng vải màu trắng bị đứt một bên quai được cuộn tròn bên trong có 01 (một) đoạn ống thủy tinh hình mỏ vịt, phần mỏ đã bị vỡ, dài 10cm và một đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín, bên trong chứa chất tinh thể nghi là ma túy, dài 06cm, đoạn ống nhựa được dán lên một lớp băng keo màu đen. Tất cả để trong ngăn chính của chiếc ba lô. Được niêm phong.
- Tại ngăn ngoài của ba lô: một nắp nhựa màu đỏ đục thủng hai lỗ, một hộp quẹt gas đã bị vỡ phần đầu, một đoạn ống nhựa được cắt nhọn, dài 08cm; một cây tiêm dẫn gas bằng kim loại dài 06cm.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30, màn hình cảm ứng, màu xanh, số Imeil: 354868100695826, số Imei2: 354869100695824, sim số 0908541185 tạm giữ khi P đang cầm trên tay trái. Được niêm phong.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, màn hình cảm ứng, mật khẩu 1999, số Imeil: 860951050021552, số Imei2: 860951050021545, sim số 0867288107 và 0862190824 tạm giữ trong túi quần trước bên trái của P. Được niêm phong.
- Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) phát hiện trong ốp lưng điện thoại Oppo.
- 01 (một) xe mô tô hai bánh không gắn biển số, loại Angel100, SYM màu bạc, số máy VMRVA2008611, số khung VMEKCG01ME008611.
Tại Bản kết luận giám định số 115/2024/KL-KTHS ngày 20/02/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong một đoạn ống nhựa trong phong bì ký hiệu 1 gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng 0,3895gam.
Quá trình điều tra, Phan Văn P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được.
Ngày 17/5/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành trao trả lại các tài sản không liên quan đến hành vi phạm tội của Phan Văn P như sau:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30, màn hình cảm ứng, màu xanh, số Imeil: 354868100695826, số Imei2: 354869100695824, sim số 0908541185.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, màn hình cảm ứng, mật khẩu 1999, số Imeil: 860951050021552, số Imei2: 860951050021545, sim số 0867288107 và 0862190824.
- Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
Đối với xe mô tô dán tem Angel 100, màu bạc, không gắn biển số, số khung VMEKCG013ME008611, số máy VMEVA2008611 là vật chứng trong vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 15/02/2024 tại ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre đang thụ lý giải quyết.
Tại bản Cáo trạng số 39/CT-VKSTP-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú đã truy tố bị cáo Phan Văn P về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Quá trình tranh luận tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát luận tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Phan Văn P từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2024.
Do bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không đảm nhận chức vụ. Do đó, không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Đề nghị Hội đồng xét xử:
* Tịch thu tiêu hủy:
- - 01 bao phong bì ký hiệu 115/2024. Bên trong chứa mẫu sau giám định có khối lượng 0,2907 gam.
- - 01 ba lô màu xanh đen ghi chữ nike, loại có hai quai đeo sau lưng.
- - 01 khẩu trang màu trắng bị đứt một bên quai.
- - 01 đoạn ống thủy tinh hình mỏ vịt, dài 10cm, phần mỏ vịt đã bị vỡ.
- - 01 nắp bằng nhựa màu đỏ (loại nắp chai nước ngọt Sting) có hai lỗ tròn.
- - 01 hộp quẹt gas.
- - 01 ống nhựa được cắt nhọn một đầu, một đầu bằng dài 08 cm.
- - 01 cây tiêm bằng kim loại.
Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSTP-HS ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.
Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận về việc: xác định không liên quan đến vụ án, ngày 17/5/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tiến hành trao trả cho Phan Văn P:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30, màn hình cảm ứng, màu xanh, số Imeil: 354868100695826, số Imei2: 354869100695824, sim số 0908541185.
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, màn hình cảm ứng, mật khẩu 1999, số Imeil: 860951050021552, số Imei2: 860951050021545, sim số 0867288107 và 0862190824.
- - Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng).
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn P khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện giống như nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo; thừa nhận hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật.
Bị cáo Phan Văn P nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Phan Văn P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đủ cơ sở xác định: Khoảng 12 giờ 30 phút ngày 17/02/2024, Phan Văn P điều khiển xe mô tô không gắn biển số lưu thông trên Đường D ở ấp T, xã M, huyện T, tỉnh Bến Tre có hành vi tàng trữ trái phép 0,3895 gam ma túy, loại Methamphetamine để sử dụng.
[3] Hành vi của bị cáo Phan Văn P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, nên bản Cáo trạng số 39/CT-VKSTP-HS, ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Phan Văn P tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Phan Văn P phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình, nên đây là tình tiết được xem xét để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về áp dụng hình phạt đối với bị cáo: Căn cứ vào tính chất, mức độ hậu quả của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo Phan Văn P có nhân thân xấu, đang có 02 tiền án về tội trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn không cải sửa. Bị cáo Phan Văn P là người đã thành niên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo biết tác hại của ma túy đối với sức khỏe bản thân, cộng đồng, đồng thời ma túy còn gây ra nhiều tệ nạn khác cho xã hội, biết việc tàng trữ ma túy là hành vi vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện việc cất giữ bên người để sử dụng. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo đã vi phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước, vi phạm pháp luật hình sự. Do đó, cần áp dụng hình phạt tù thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và đảm bảo được tính răn đe, phòng ngừa chung cho cộng đồng.
Bị cáo Phan Văn P không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng, không đảm nhận chức vụ. Do đó, không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 bao phong bì ký hiệu 115/2024. Bên trong chứa mẫu sau giám định có khối lượng 0,2907 gam.
- - 01 ba lô màu xanh đen ghi chữ nike, loại có hai quai đeo sau lưng.
- - 01 khẩu trang màu trắng bị đứt một bên quai.
- - 01 đoạn ống thủy tinh hình mỏ vịt, dài 10cm, phần mỏ vịt đã bị vỡ.
- - 01 nắp bằng nhựa màu đỏ (loại nắp chai nước ngọt Sting) có hai lỗ tròn.
- - 01 hộp quẹt gas.
- - 01 ống nhựa được cắt nhọn một đầu, một đầu bằng dài 08 cm.
- - 01 cây tiêm bằng kim loại.
Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSTP-HS ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.
Đối với vật chứng là: 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy A30, màn hình cảm ứng, màu xanh, số Imeil: 354868100695826, số Imei2: 354869100695824, sim số 0908541185; 01 điện thoại di động hiệu Oppo, màu xanh, màn hình cảm ứng, mật khẩu 1999, số Imeil: 860951050021552, số Imei2: 860951050021545, sim số 0867288107 và 0862190824; Số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng), các vật chứng này đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét, giải quyết.
Đối với xe mô tô dán tem Angel 100, màu bạc, không gắn biển số, số khung VMEKCG013ME008611, số máy VMEVA2008611 là vật chứng trong vụ án Trộm cắp tài sản xảy ra ngày 15/02/2024 tại ấp T, thị trấn T, huyện T, tỉnh Bến Tre. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Bến Tre đang thụ lý giải quyết, nên không đề cập xử lý trong vụ án này.
[8] Đối với nguồn gốc số ma túy bị bắt quả tang, qua làm việc P khai nhận do người bạn tên P1 mà P quen trước đây ở quận G, thành phố Hồ Chí Minh, P không rõ họ tên, địa chỉ cụ thể, tình cờ gặp và cho P đoạn ống hút chứa chất ma túy vào sáng ngày 17/02/2024. Do thông tin về người tên P1 không đủ nên không thể truy tìm để xử lý theo quy định.
[9] Ý kiến của Kiểm sát viên phân tích hành vi cấu thành tội phạm của bị cáo, hậu quả, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là phù hợp với tính khách quan của vụ án, đúng với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[10] Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Phan Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn P phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/3/2024.
- Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
* Tịch thu, tiêu hủy:
- - 01 bao phong bì ký hiệu 115/2024. Bên trong chứa mẫu sau giám định có khối lượng 0,2907 gam.
- - 01 ba lô màu xanh đen ghi chữ nike, loại có hai quai đeo sau lưng.
- - 01 khẩu trang màu trắng bị đứt một bên quai.
- - 01 đoạn ống thủy tinh hình mỏ vịt, dài 10cm, phần mỏ vịt đã bị vỡ.
- - 01 nắp bằng nhựa màu đỏ (loại nắp chai nước ngọt Sting) có hai lỗ tròn.
- - 01 hộp quẹt gas.
- - 01 ống nhựa được cắt nhọn một đầu, một đầu bằng dài 08 cm.
- - 01 cây tiêm bằng kim loại.
Các vật chứng được tạm gửi tại Cơ quan Thi hành án dân sự huyện T theo Quyết định chuyển vật chứng số 32/QĐ-VKSTP-HS ngày 06/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Phú.
Các vật chứng khác đã xử lý xong trong giai đoạn điều tra nên không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 tháng 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Phan Văn P phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án cấp trên xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ (đã ký) Nguyễn Thị Thủy Tiên |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 09/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH PHÚ – TỈNH BẾN TRE
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
