Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRÀ CÚ

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 08-11-2023

“V/v tranh chấp ly hôn nuôi con

và chia tài sản chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phước Thị Kim Huê

Ông Kim Diễn

Thư ký phiên tòa: Bà Kim Thị Hồng Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Trầm văn Mừng - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Cú xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 90/2023/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 4 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 48/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Nguyễn Minh H, sinh ngày 12/11/1995 (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Luật sư Võ Hùng H1 - Văn phòng L thuộc Đoàn luật sư tỉnh T (có mặt).

Địa chỉ: số C đường N, khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh.

Bị đơn: Chị Đặng Thị Tuyết N, sinh ngày 13/12/ 1995 (có mặt)

Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn Sĩ Q, sinh năm 1975 (có mặt)

    Địa chỉ ấp H, xã H, huyện V, tỉnh Vĩnh Long.

  2. Bà Lê Thị X, sinh năm 1978 (có mặt)

    Địa chỉ: ấp E, xã M, huyện C, tỉnh Trà Vinh.

  3. Bà Lê Thị Thu H2, sinh năm 1982 (vắng mặt)
  4. Bà Lâm Thị D, sinh năm 1984 (có mặt)

    Cùng địa chỉ: ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 29/3/2023 và quá trình tố tụng nguyên đơn anh Nguyễn Minh H trình bày: Nguyên vào khoảng năm 2021 anh và chị Đặng Thị Tuyết N do quen biết trước và có sự đồng ý của gia đình hai bên nên tự nguyện tiến tới hôn nhân, anh chị có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Sau ngày cưới thời gian đầu anh, chị sống tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Trong quá trình chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Đặng Phúc T, sinh ngày 18/12/2021. Nhưng đến thời gian gần đây thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn gay gắt do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, chị N hay cáu gắt làm cho cuộc sống hôn nhân ngày càng thêm căng thẳng, từ đó anh bỏ đi lên thành phố T sống và thỉnh thoảng về thăm con. Nguyên nhân chính để ly hôn là do thời gian vợ chồng không chung sống vợ anh tự ý quản lý phần tài sản của anh trước hôn nhân. Anh nhiều lần lý giải cho vợ hiểu việc nào ra việc đó, làm như vậy ảnh hưởng đến nguồn vốn làm ăn của anh nhưng chị N không hiểu mà cố chấp làm cho quan hệ vợ chồng không thể hàn gắn được. Mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay, từ khi ly thân đến nay không bên nào tạo điều kiện hàn gắn. Nay xét thấy quan hệ vợ chồng đã mâu thuẫn đến mức trầm trọng không thể hàn gắn được, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau nữa, đời sống chung không thể tiếp tục nên yêu cầu giải quyết cho anh được ly hôn với chị N. Về con chung, anh đồng ý giao cháu T cho chị N nuôi, anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, cấp từ khi ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung không có. Việc chị N cho rằng anh đang giữ 30 chỉ vàng 24k (loại vàng 9999); 30 chỉ vàng 18k (loại vàng 7.5) là không đúng sự thật và thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² thực đo 620,9m²) tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh là tài sản cá nhân của anh đứng tên trước khi kết hôn với chị N, không phải tài sản chung nên anh không đồng ý chia.

Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 12/5/2023 và các lời trình bày trong quá trình tố tụng, bị đơn chị Đặng Thị Tuyết N trình bày: chị thống nhất như trình bày của anh H về hôn nhân, con chung. Về nợ chung không có; Tuy nhiên về tài sản chung thì trong thời gian chung sống có 30 chỉ vàng 24k (loại vàng 9999); 30 chỉ vàng 18k (loại vàng 7.5), số vàng này hiện nay anh H đang quản lý và thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh do anh H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, thửa đất này chuyển nhượng trước khi chị và anh H đăng ký kết hôn, nhưng thực tế lúc đó chị với anh H đã chung sống với nhau và chị đang mang thai con chung là cháu Nguyễn Đặng Phúc T, sinh ngày 18/12/2021. Thửa đất này do mẹ chồng chị cho tiền mua vào ngày 25/5/2021 của bà Kim Thị T1 ở ấp C, xã L với số tiền 350.000.000 đồng, khi mua đất chị và anh H mới tổ chức lễ hỏi chứ chưa đăng ký kết hôn nhưng anh H đã về chung sống bên gia đình chị, trong thân tộc hai bên và hàng xóm ai cũng biết). Lúc đó, mẹ chồng chị nói mua đất cho hai vợ chồng để sau khi đám cưới cất nhà ở làm ăn nuôi con, khi giao nhận tiền với chủ đất thì có mặt chị và anh H, cha mẹ chồng, cha ruột chị, hai bên có làm giấy tay mua bán đất do chị là người viết giấy tay đó.

Nay anh H yêu cầu ly hôn thì chị thống nhất ly hôn, về con chung chị nhận nuôi và đồng ý mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung chị yêu cầu chia đôi thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² (thực đo 620,9m²) tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh do anh H đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, còn riêng với phần vàng tài sản chung và riêng thì chị xin rút lại yêu cầu phản tố. Về nợ chung không có, không yêu cầu giải quyết.

Người làm chứng chị Lâm Thị D trình bày: chị không có quan hệ thân nhân gì với anh H và chị N, do nhà chị ở gần nhà chị N nên biết anh H và chị N quen nhau cuối năm 2020, đầu năm 2021 cha, mẹ anh H là ông Q1 và bà X ở V xuống ở bên gia đình sui gia, nên chị có nghe hai bên gia đình nói mua đất để cho anh H và chị N cất nhà ở riêng và buôn bán, vì lúc đó chị N đang mang thai, đất mua của bà T1 bán thịt bò nhưng mua bằng bao nhiêu tiền thì chị không biết.

Người làm chứng ông Nguyễn Văn Sỹ Q2 và bà Lê Thị X trình bày: Nguồn tiền mua thửa đất là của ông bà cho riêng anh H, do đó việc quyết định chia cho chị N hay không là quyền của anh H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn cho rằng tài sản ông H mua trước khi đăng ký kết hôn nên là tài sản riêng của anh H, do đó anh H không đồng ý yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ theo quy định.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:

  • - Về tố tụng: Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người tham gia tố tụng khác trong vụ án khi tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và chấp hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa.
  • - Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 53, 56, 58, 62 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Minh H.
  • + Về hôn nhân: Anh Nguyễn Minh H được ly hôn với chị Đặng Thị Tuyết Nhiên.
  • + Về con chung: Giao Nguyễn Đặng Phúc T, sinh ngày 18/12/2021 cho chị N nuôi dưỡng; về cấp dưỡng ghi nhận sự tự nguyên cấp dưỡng nuôi con của anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000đồng.
  • +Về nợ chung: Anh H, chị N xác định không có, không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết;
  • + Về tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu phản tố của chị Đặng Thị Tuyết N yêu cầu chia thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đình chỉ đối với phần chị N rút đơn yêu cầu chia tài sản chung 30 chỉ vàng 24k (loại vàng 9999); 30 chỉ vàng 18k (loại vàng 7.5).
  • + Về án phí và chi phí tố tụng: Các đương sự chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nguyên đơn anh Nguyễn Minh H vắng mặt tại phiên tòa, nhưng có yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn.

[2] Về hôn nhân: Anh H và chi Nhiên do quen biết tìm hiểu và được sự đồng ý của gia đình hai bên nên tự nguyện tiến tới hôn nhân và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày cưới anh, chị sống tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh thời gian đầu rất hạnh phúc, luôn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Tuy nhiên, thời gian sau đó anh H và chị N phát sinh mâu thuẩn do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 9/2022 cho đến nay và hiện nay vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau nữa, đời sống chung không thể tiếp tục nên anh H yêu cầu được ly hôn và chị N cũng thống nhất ly hôn. Căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận cho anh Nguyễn Minh H được ly hôn với chị Đặng Thị Tuyết N.

[3] Về con chung: Trong quá trình chung sống có 01 người con chung tên Nguyễn Đặng Phúc T, sinh ngày 18/12/2021 hiện đáng sống chung với chị N, anh H đồng ý giao chị N nuôi dưỡng, anh H tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng và chị N đồng ý nhận nuôi con chung và chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con như anh H đề nghị là phù hợp nên chấp nhận.

[4] Về tài sản chung: Anh H cho rằng vợ chồng không có tài sản chung, chị N phản tố yêu cầu chia tài sản chung thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. nhưng anh H không thừa nhận thửa đất nầy là tài sản chung của vợ chồng bởi thửa đất này được anh H chuyển nhượng và đứng tên cá nhân trước khi kết hôn với chị N và tiền chuyển nhượng cũng là của gia đình anh H bỏ ra chuyển nhượng cho anh H, anh H không đồng ý xác lập vào tài sản chung và không phải tiền của chị N và anh H tạo ra trong thời kỳ hôn nhân, theo quy định tại khoản 1 Điều 62 Luật hôn nhân và gia đình quy định quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bên nào thì khi ly hôn vẫn thuộc về bên đó. Tại phiên tòa chị N không cung cấp được chứng cứ chứng minh tài sản có trong thời kỳ hôn nhân. Do đó yêu cầu chia tài sản chung là thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh. của chị N là không có căn cứ chấp nhận.

Đối với phần tài sản là 30 chỉ vàng 24k (loại vàng 9999); 30 chỉ vàng 18k (loại vàng 7.5) chị N rút lại yêu cầu phản tố là phù hợp theo quy định tại Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự nên chấp nhận.

[5] Về nợ chung: Không có nên không giải quyết.

[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Cú là có cơ sở, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là có căn cứ nên được chấp nhận.

[7] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định. Do yêu cầu phản tố của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự có giá ngạch đối với phần yêu cầu không được chấp nhận.

[8] Về chi phí tố tụng: Bị đơn phải chịu toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, 91, 147, 157, 227, 228, 244 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; các Điều 33, 34, 35, 37, 38, 56, 58, 59, 62 và Điều 63 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 12, 26, 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; tuyên xử:

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Minh H về việc yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con đối chị Đặng Thị Tuyết N.

    Cho anh Nguyễn Minh H ly hôn với chị Đặng Thị Tuyết N.

  2. Giao cháu Nguyễn Đặng Phúc T, sinh ngày 18/12/2021 cho chị N tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh H cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 2.000.000 đồng, từ ngày ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi.

    Sau khi ly hôn, anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu anh H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị N có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền hạn chế quyền thăm nom con của anh H.

  3. Về tài sản chung:
    • Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn chị Đặng Thị Tuyết N yêu cầu chia thửa đất số 1956 tờ bản đồ số 2, diện tích 632m² tọa lạc tại ấp C, xã L, huyện T, tỉnh Trà Vinh.
    • Đình chỉ yêu cầu chia 30 chỉ vàng 24k (loại vàng 9999); 30 chỉ vàng 18k (loại vàng 7.5) do bị đơn rút lại yêu cầu phản tố.
  4. Về nợ chung: không có.
  5. Về án phí: Nguyên đơn anh Nguyễn Minh H phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp bằng 300.000 đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0015223 ngày 04/4/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Trà Cú nên phải nộp tiếp 300.000 đồng. Bị đơn chị Đặng Thị Tuyết N phải chịu 10.119.625 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.495.000 đồng theo biên lai số 0015337 ngày 15/5/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Cú, do đó chị N phải nộp tiếp 1.624.625 đồng.

    Về chi phí tố tụng: 2.150.691 đồng buộc bị đơn Đặng Thị Tuyết N phải chịu toàn bộ. Chị N đã nộp tạm ứng bằng 3.000.000 đồng nên được nhận lại 849.309 đồng tại Tòa án.

  6. Quyền kháng cáo: đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND huyện Trà Cú;
  • - UBND xã Lưu Nghiệp Anh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2023/HNGĐ-ST ngày 08/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp ly hôn nuôi con và chia tài sản chung

  • Số bản án: 36/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn nuôi con và chia tài sản chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ CÚ, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp ly hôn, nuôi con và chia tài sản chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger