|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày: 08 - 5 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Bình
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Hải Nam;
Bà Nguyễn Thị Huệ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bằng Thị Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Trần Vũ Sơn và ông Vũ Đại D - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại Điểm cầu trung tâm đặt tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và Đ cầu thành phần đặt tại cơ sở giam giữ Công an thành phố S. Tòa án nhân dân thành phố Sông Công mở phiên tòa trực tuyến xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 35/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vũ Ngọc H, sinh ngày 19 tháng 11 năm 1977 tại thành phố T, tỉnh Tuyên Quang; nơi cư trú: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): lớp 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Vũ Duy A (đã chết) và bà Đoàn Thị P; Vợ: Nguyễn Thị Thanh H1.
- Tiền án: Không;
- Tiền sự: Ngày 15/9/2017, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính 500.000đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (Chưa chấp hành xong).
- Nhân thân: Ngày 22/6/2019, bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/12/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh H1 - sinh năm 1982; Trú tại: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt).
- Người chứng kiến:
- + Anh Doãn Văn N, sinh năm 1989; Trú tại: Xóm B, xã T, Tp S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
- + Chị Nguyễn Thu T, sinh năm 1992; Trú tại: Xóm M, xã T, Tp S, tỉnh Thái Nguyên (Vắng mặt).
- Người tham gia tố tụng khác: Ông Ngô Thế Â - Cán bộ dẫn giải nhà tạm giữ Công an thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09h00' ngày 21/12/2023, Công an xã T, T được tin báo của quần chúng nhân dân về việc tại khu vực đầu khu công nghiệp S II thuộc xóm M, xã T, thành phố S có một người điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda - CUB, BKS: 22YA – 00604 có biểu hiện nghi vấn liên quan đến hành vi phạm tội nên đã thành lập tổ công tác đến xác minh và kiểm tra. Khi bị kiểm tra thì người đàn ông chấp hành khai nhận họ tên là Vũ Ngọc H, sinh năm: 1977, trú tại tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Tuyên Quang đồng thời tự giác lấy từ túi áo khoác bên trái đang mặc 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng, lấy từ túi áo khoác bên phải ra 02 ống nước cất và 01 xilanh loại 3ml giao nộp cho tổ công tác (H khai là ma túy mua về để sử dụng cho bản thân). Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng, được niêm phong vào bì ký hiệu A; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda - CUB, BKS: 22YA – 00604; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 02 ống nước cất và 01 xilanh loại 3ml và đưa H cùng vật chứng về trụ sở để giải quyết theo quy định, cùng ngày Công an phường L đã bàn giao hồ sơ vụ án đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S giải quyết theo thẩm quyền.
Ngày 21/12/2023 Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Vũ Ngọc H. Tại bản kết luận giám định số 77 ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chất bột màu trắng trong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine (heroin), có tên khoa học là D1, được quy định tại Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng là 0,127 gam.
Quá trình điều tra bị cáo Vũ Ngọc H khai nhận: Bản thân H là người nghiện ma túy từ năm 2013 cho đến nay. Khoảng 08 giờ ngày 21/12/2023. H mượn xe mô tô Biển kiểm soát 22YA – 006.04 của vợ là chị Nguyễn Thị Thanh H1 đi từ phòng trọ của chị H1 ở tổ dân phố G, phường Đ, thành phố P đến khu vực khu công nghiệp S thuộc xóm M, xã T, thành phố S mục đích tìm mua ma túy để sử dụng cho bản thân. Trên đường đi H vào hiệu thuốc bên đường mua 02 ống nước cất và 01 chiếc xilanh nhựa để sử dụng ma túy. Khi đến khu vực cổng khu công nghiệp S, H gặp một nam thanh niên khoảng 20 tuổi đang đỗ xe ở lề đường, có biểu hiện mua bán ma túy, H tiến đến và hỏi “có đồ không” ý là hỏi mua ma túy, thì người này bảo “hê hay đá” thì H nói “lấy 100.000 hê” và đưa cho người này 100.000đồng, người đàn ông cầm tiền và đưa cho H một gói nilon màu trắng, bên trong chứa ma túy đưa cho H, H cầm và cất vào vỏ bao thuốc lá Thăng L rồi đút vào túi áo khoác bên trái đang mặc, còn người bán ma túy cho H bỏ đi, H nổ máy xe đi tìm nơi để sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an xã T, thành phố S đến kiểm tra, phát hiện thu giữ gói ma túy, và các đồ vật có liên quan.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB, biển kiểm soát 22YA – 006. 04; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,113 gam mẫu A1 (Heroine) còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong chứa 01 xi lanh nhựa loại 03ml và 02 ống nước cất; Bì niêm phong ký hiệu C chứa 01 vỏ bao thuốc lá T; Bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì ký hiệu A và túi nilon màu trắng, các vật chứng được chuyển bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.
Tại bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 11/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công đã truy tố bị cáo Vũ Ngọc H về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Vũ Ngọc H về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt Vũ Ngọc H từ 18 đến 24 tháng tù, miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo;
Về vật chứng, đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ: 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,113 gam mẫu A1 (Heroine) còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong chứa 01 xi lanh nhựa loại 03ml và 02 ống nước cất; Bì niêm phong ký hiệu C chứa 01 vỏ bao thuốc lá T; Bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì ký hiệu A và túi nilon màu trắng. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB, biển kiểm soát 22YA – 006.04, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Thanh H1, nên đề nghị trả lại cho chị H1 quản lý sử dụng.
Bị cáo H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như Kết luận điều tra và cáo trạng truy tố, bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng, xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Tại giai đoạn điều tra và phiên tòa, bị cáo Vũ Ngọc H đã khai nhận toàn bộ hành vi, diễn biến nội dung sự việc đúng như nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người chứng kiến, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ xác định: Hồi 09 giờ 30 phút ngày 21/12/2023 tại khu vực xóm M, xã T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên, Vũ Ngọc H tàng trữ trái phép 0,127 gam ma túy, loại Heroine, mục đích sử dụng cho bản thân thì bị Công an xã T, thành phố S phát hiện bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của bị cáo Vũ Ngọc H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Nội dung điều luật quy định:
Điều 249. Tội tàng trữ trái phép chất ma túy
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
c)...Heroine, ...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”
Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.
-
Đánh giá về tính chất hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
3.1. Về tính chất hành vi phạm tội: Bị cáo Vũ Ngọc H thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, hành vi của bị cáo Vũ Ngọc H là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quy định của Nhà nước về quản lý, sử dụng chất ma tuý, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
3.2. Về nhân thân: Bị cáo Hà sinh ra, lớn lên tại địa phương, được gia đình nuôi ăn học hết lớp 9/12, làm lao động tự do. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, làm chủ được hành vi của mình, đã được các cơ quan, tổ chức giáo dục, cải tạo nhiều lần nhưng do bản thân thiếu tu dưỡng rèn luyện, không tiến bộ mà tiếp tục mắc vào tệ nạn ma tuý nên dẫn đến phạm tội. Bị cáo có 01 tiền sự, ngày 15/9/2017, bị Công an phường T, thành phố T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy chưa chấp hành xong; bị cáo có nhân thân xấu, ngày 22/6/2019, bị Ủy ban nhân dân phường T, thành phố T áp dụng biện pháp giáo dục tại phường về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Nay lại tiếp tục có hành vi cất giấu trái phép 0,127 gam chất ma tuý, loại Heroin nhằm mục đích sử dụng nên hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy với tình tiết định khung quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 249 Bộ luật hình sự.
3.3. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong vụ án này, bị cáo H được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là người phạm tội thành khẩn khai báo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 và không phải chịu tình tiết tăng nặng nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Căn cứ vào tính chất của vụ án, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp có tính chất nghiêm trọng, hành vi đó gây nguy hiểm cho xã hội, là một trong các nguyên nhân làm gia tăng tệ nạn xã hội và tội phạm về ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã được cơ quan, tổ chức giáo dục và cải tạo nhiều lần nhưng không tiến bộ vẫn tiếp tục mắc tệ nạn xã hội, nên cần phải xét xử bị cáo bằng án phạt tù nghiêm khắc, buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian theo đề nghị của Viện kiểm sát mới đủ điều kiện để giáo dục đối với bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội, đồng thời góp phần phòng ngừa, giáo dục chung. Hội đồng xét xử sẽ xem xét, cân nhắc xét xử bị cáo H mức án phạt tù phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo H mua ma túy với mục đích sử dụng cho bản thân, nên xét không cần thiết áp dụng phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
-
Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
-
Về vật chứng và đồ vật liên quan trong vụ án:
- - Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB, biển kiểm soát 22YA – 006.04, quá trình điều tra xác định chiếc xe trên là của chị Nguyễn Thị Thanh H1 - sinh năm 1982; địa chỉ: Tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (là vợ của bị cáo). Chị H1 cho H mượn chiếc xe trên để sử dụng, chị H1 không biết H sử dụng chiếc xe trên để đi ma túy nên cần trả lại cho chị H1 quản lý sử dụng.
- - Đối với số ma túy bị thu giữ của Vũ Ngọc H còn lại sau giám định và một số đồ vật liên quan khác là vật Nhà nước cấm lưu hành và vật không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
-
Về án phí: Bị cáo Vũ Ngọc H bị kết án, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
-
Căn cứ Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Ngọc H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
* Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo Vũ Ngọc H.
-
Về việc áp dụng biện pháp ngăn chặn: Áp dụng Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tiếp tục tạm giam bị cáo Vũ Ngọc H 45 (bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho việc thi hành án.
-
Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu huỷ 01 bì niêm phong ký hiệu A1 bên trong có 0,113 gam mẫu A1 (Heroine) còn lại sau giám định; 01 bì niêm phong ký hiệu B bên trong chứa 01 xi lanh nhựa loại 03ml và 02 ống nước cất; Bì niêm phong ký hiệu C chứa 01 vỏ bao thuốc lá T; Bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì ký hiệu A và túi nilon màu trắng.
Trả lại cho chị Nguyễn Thị Thanh H1 quản lý sử dụng 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA CUB, biển kiểm soát 22YA – 006. 04, số máy VZS139FMB486381, số khung: RR6DCB80MDT486381.
(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 26/4/2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Sông Công).
-
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ – UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Ngọc H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.
-
Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo Vũ Ngọc H, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là chị Nguyễn Thị Thanh H1; báo cho biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Bình |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ Điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tuyên bố: Bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Vũ Ngọc H 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2023.
