TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc |
Bản án số: 36/2024/HSST
Ngày 08 tháng 5 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thân Hồng Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Vinh và ông Nguyễn Văn Thanh
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hoàng Cường – Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên toà: Bà Hà Thị Hiên - Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang và điểm cầu thành phần Trại tạm giam - Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử phiên tòa trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/202/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đỗ Thị H, sinh năm 1955; Tên gọi khác: Không có; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 02/10;
Con ông Đỗ Văn V và con bà Trần Thị B (đều đã chết); có chồng là Lê Quang N, sinh năm 1953 (đã chết); bị cáo có 04 con; con lớn sinh năm 1975, con nhỏ sinh năm 1984;
- Nhân thân:
- + Bản án số 1553/PTHS ngày 28/9/2004 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung 10.000.000 đồng; án phí HSST 50.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2010; chấp hành xong tiền phạt bổ sung và án phí ngày 22/10/2008;
- + Bản án số 117/2012/HS-ST ngày 22/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng; án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015; chấp hành tiền phạt bổ sung và án phí ngày 09/7/2013.
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2023 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B, có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, (vắng mặt).
- Người làm chứng:
- Chị Cao Thị Thùy C, sinh năm 1990, (vắng mặt)
- Chị Trần Thị T1, sinh năm 1990, (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ C, phường T, thành phố B, tỉnh Bắc Giang.
Địa chỉ: Tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 14 giờ 15 phút ngày 22/12/2023, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý Công an tỉnh B phối hợp với Công an huyện L kiểm tra hành chính nhà trọ có biển hiệu nhà trọ “H" thuộc tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang do bị cáo Đỗ Thị H, sinh năm 1955 ở tổ dân phố số C, thị trấn K làm chủ. Quá trình kiểm tra, tổ công tác phát hiện:
- Tại phòng ngủ tầng 1 nhà trọ có Đỗ Thị H và Trần Thị T1, sinh năm 1990 ở tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang (con dâu H). Thu giữ tại túi áo khoác H đang mặc số tiền 200.000 đồng và 01 căn cước công dân mang tên Đỗ Thị H.
- Tại phòng số 4 tầng 2 nhà trọ có Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 ở thôn B, xã T, huyện L và Cao Thị Thùy C, sinh năm 1990 ở tổ C, phường T, thành phố B. Trong đó, T đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Thu giữ trên mặt bàn phòng số 4 có 01 mảnh giấy bạc một mặt có bám dính chất màu nâu nghi là ma tuý (niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT”); 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 bình ống hút (chai nhựa có gắn ông hút). Tiến hành xét nghiệm ma túy, kết quả: T dương tính với ma túy; C âm tính với ma túy.
- Tại phòng số 2 tầng 1 nhà trọ có Lê Thị N1, sinh năm 1994 ở thôn C, xã C, huyện Q, tỉnh Bắc Ninh và Lê Tuấn Sơn L, sinh năm 1995 ở thôn B, xã T, huyện V, tỉnh Lạng Sơn. Tiến hành xét nghiệm ma túy, kết quả N1 và L đều dương tính với ma túy.
- Tại phòng số 5 tầng 3 nhà trọ có Trần Trung K, sinh năm 1993 ở thôn B, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn và Trần Văn T2, sinh năm 1993 ở thôn V, xã M, huyện H, tỉnh Lạng Sơn. Tiến hành xét nghiệm ma túy, kết quả: K dương tính với ma túy; T2 âm tính với ma túy (BL 29-30; 38-42).
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L tiến hành khám xét khẩn cấp nhà trọ “Hưng Vượng”, phát hiện thu giữ vật chứng gồm:
- Thu giữ tại gầm giường trong phòng số 6 tầng 2 nhà trọ: 01 lọ nhựa màu nâu có nắp xoáy màu vàng, bên trong có: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, bên trong túi chứa 19 viên nén màu hồng đỏ nghi là ma tuý tổng hợp; 08 túi nilon màu trắng một đầu của mỗi túi đều có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều đựng chất cục bột nghi là ma tuý Heroine; 12 đoạn ống nhựa đều được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn ống nhựa đều chứa chất cục bột nghi là ma tuý Heroine. Toàn bộ vật chứng nghi là ma túy được niêm phong trong phong bì ký hiệu “KX”.
- Thu giữ trên giường trong phòng ngủ của Đỗ Thị H: 01 cân điện tử màu trắng.
- Thu giữ trên mặt bàn gỗ đặt phía ngoài cửa phòng ngủ: 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu đỏ, bên trong túi không đựng gì; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo màu xám (BL 34-35).
Cùng ngày, Đỗ Thị H đầu thú tại Cơ quan điều tra Công an huyện L và khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bản thân.
Quá trình điều tra xác định hành vi phạm tội của bị cáo như sau: Bản thân H kinh doanh nhà trọ “Hưng Vượng” tại tổ dân phố số C, thị trấn K. Sáng ngày 22/12/2023, bị cáo H đi xe ô tô khách xuống bến xe thành phố B tìm mua ma tuý về bán lại cho các đối tượng nghiện kiếm lời. Tại đây, H gặp một người lái xe ôm không quen biết và mua của người này 3.630.000 đồng ma túy được 01 túi giấy bên trong có 08 túi nilon đựng ma tuý Heroine, 12 đoạn ống nhựa màu vàng bên trong mỗi đoạn đều đựng ma tuý Heroine và 01 túi nilon bên trong đựng 21 viên ma tuý ngựa. Sau khi mua được ma tuý, H bắt xe khách về nhà rồi bỏ ra 02 viên ma tuý ngựa cất ở đầu giường trong phòng ngủ; số ma tuý còn lại H cho vào 01 lọ nhựa rồi cất ở gầm giường trong phòng số 6 trên tầng 2 nhà trọ. Đến khoảng gần 14 giờ cùng ngày, khi H đang ở nhà trọ thì Nguyễn Văn T và Cao Thị Thùy C đến thuê phòng. Lúc này, tại khu vực quầy thanh toán tầng 1, T hỏi mua của H 02 viên ma túy ngựa thì Hòa đồng ý bán cho T với giá 140.000 đồng. T đưa cho H 200.000 đồng để trả tiền mua ma túy và tiền phòng rồi H vào phòng ngủ lấy 02 viên ma túy ngựa đưa cho T. Sau đó, T cầm ma túy rồi cùng C đi lên phòng số 4 tầng 2 nhà trọ. Khi đi lên cầu thang, T gặp và xin của Trần Thị T1 ống hút và giấy bạc, mục đích để sử dụng ma túy. Tại phòng số 4, T bỏ 02 viên ma túy mua được của H ra sử dụng đến khoảng 14 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng công an vào kiểm tra hành chính phát hiện, thu giữ vật chứng (BL 25-27; 171-183).
Tại kết luận giám định số 2613/KL-KTHS ngày 28/12/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
“5.1. Trong 01 phong bì ký hiệu “KT” được niêm phong gửi giám định:
Chất màu nâu bám dính trên một mặt 01 mảnh giấy bạc có hai mặt màu trắng bạc là chất ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng.
5.2. Trong 01 phong bì ký hiệu “KX” được niêm phong gửi giám định:
Trong 01 lọ nhựa màu nâu có nắp xoáy màu vàng có:
- 19 viên nén hồng đỏ được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ là chất ma túy, có khối lượng 1,866 gam, loại Methamphetamine.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 08 túi nilon màu trắng một đầu rãnh khóa nhựa, viền màu xanh là ma túy, có tổng khối lượng 2,337 gam, loại Heroine.
- Chất cục bột màu trắng đựng trong 12 đoạn ống nhựa màu vàng đều được hàn kín hai đầu là ma túy, có khối lượng 0,634 gam, loại Heroine.” (BL 46-47).
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Đỗ Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.
Tại Bản cáo trạng số 32/CT-VKS ngày 28/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Đỗ Thị H về tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, bị cáo không bị oan, sai.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (anh T) vắng mặt nhưng các lời khai đã trình bày về việc anh thuê nhà trọ “Hưng Vượng” của bị cáo H. Do bị mắc nghiện nên anh đã mua của bị cáo 02 viên ma túy “ngựa” để sử dụng. Anh đưa cho bị cáo 200.000 đồng, trong đó tiền mua ma túy là 140.000 đồng còn 60.000 đồng là tiền thuê phòng. Việc anh sử dụng ma túy tại phòng trọ thì bị cáo H không biết. Sau khi anh sử dụng ma túy được khoảng 20 phút thì phòng trọ anh đang ở bị kiểm tra và phát hiện anh đã sử dụng ma túy. Cơ quan điều tra đã thu giữ tại phòng của anh gồm: 01 mảnh giấy bạc một mặt có bám dính ma túy, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 bình ống hút. Sau đó, anh đã bị Công an phạt hành chính với số tiền 1.500.000 đồng.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa đã khai rõ diễn biến họ đã biết, đã chứng kiến sự việc khi cơ quan điều tra kiểm tra hành chính và khám xét nhà ở của bị cáo H và thu giữ, lập biên bản các tang tài vật như bị cáo và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã khai tại phiên tòa.
Sau phần xét hỏi, tại phần tranh luận Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã phân tích tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi mà bị cáo đã thực hiện, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 251, Điều 38, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự,
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Bị cáo phạm vào tội có hình phạt bổ sung bằng tiền. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo là người cao tuổi (đã 69 tuổi) nên đề nghị miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về vật chứng: Đại diện VKSND huyện đề nghị:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KT” (bên trong không chứa gì), 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KX” có ký hiệu “ Vỏ, bao gói hoàn lại của KX”, “HT786.23” và 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KX” (bên trong có chứa số ma túy hoàn lại sau giám định gồm 1,740g ma túy Methamphetamine và 2,773g ma túy Heroin), 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 chai nhựa màu trắng có 02 ống hút, 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, 01 hộp giấy màu vàng bên trong có 07 mảnh giấy bạc, 01 cân điện tử màu trắng là công cụ dùng vào việc mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy.
Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân số [...] mang tên Đỗ Thị H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám.
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 200.000 đồng (trong số tiền 200.000 đồng đã thu giữ của bị cáo).
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang còn đề nghị về phần án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, sau phần xét hỏi và tranh luận, bị cáo nhất trí với lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và không có ý kiến gì tranh luận đối với đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang. Bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai trái, là vi phạm pháp luật. Do tuổi đã cao lại có bệnh trong người, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên:
Trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng xác định đều hợp pháp.
[2] Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến vắng mặt nhưng không ảnh hưởng tới việc xét xử nên xét xử theo thủ tục chung quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Về hành vi phạm tội, tội danh và khung hình phạt áp dụng: Trước cũng như tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như bản cáo trạng đã truy tố; lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác, nó phù hợp với các tài liệu đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm, cũng như kết luận giám định, Biên bản kiểm tra hành chính, Biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ, Biên bản khám xét, Bản ảnh trong hồ sơ... đã thể hiện:
Khoảng 14 giờ ngày 22/12/2023 tại nhà trọ “Hưng Vượng” do bị cáo Đỗ Thị H làm chủ ở tổ dân phố số C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang, bị cáo H có hành vi bán trái phép chất ma túy cho Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 ở thôn B, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L khám xét khẩn cấp nhà trọ ‘Hưng Vượng” phát hiện thu giữ 1,866 gam ma túy loại Methamphetamine và 2,971 gam ma túy loại Heroine của Đỗ Thị H cất giấu mục đích bán kiếm lời.
Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
Như vậy, HĐXX đã có đủ căn cứ kết luận bị cáo Đỗ Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, vai trò của bị cáo trong vụ án thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma tuý của nhà nước; gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của con người, gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội và là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác, là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Đối với các tội phạm về ma túy, Nhà nước ta đã và đang có các chế tài rất nghiêm khắc được quy định trong luật để xử lý loại tội phạm này, nhưng các tội phạm về ma túy vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. HĐXX thấy cần phải xử lý bằng hình phạt tù tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này.
[5] Về nhân thân, tiền án, tiền sự, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Về nhân than, tiền án, tiền sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu, cụ thể:
- + Bản án số 1553/PTHS ngày 28/9/2004 của Tòa án nhân dân tối cao xử phạt 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; phạt bổ sung 10.000.000 đồng; án phí HSST 50.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 17/7/2010; chấp hành xong tiền phạt bổ sung và án phí ngày 22/10/2008;
- + Bản án số 117/2012/HS-ST ngày 22/11/2012 của Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 05 năm tù về tội “Chứa mại dâm”, phạt bổ sung 5.000.000 đồng; án phí HSST 200.000 đồng. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 31/8/2015; chấp hành tiền phạt bổ sung và án phí ngày 09/7/2013.
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
-Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi bị kiểm tra hành chính, bị cáo đã xin đầu thú; quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, bị cáo có chồng là thương binh, bản thân bị cáo đã tham gia dân công hỏa tuyến trong chiến tranh bảo vệ tổ quốc đã được chi trả chế độ 01 lần vào tháng 6 năm 2020 (bút lục số 170). HĐXX thấy, bị cáo tuổi đã cao (sinh ngày 10/10/1955). Như vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. HĐXX xét thấy cần giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[6] Về việc tiếp tục tạm giam bị cáo: Hiện nay, bị cáo đang bị tạm giam, để đảm bảo cho việc thi hành án, Hội đồng xét xử thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày là phù hợp với Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.
[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người cao tuổi, không có việc làm và thu nhập, nên cần miễn phạt bổ sung đối với bị cáo.
[8] Về các nội dung khác: Qua xét xử vụ án, HĐXX thấy:
Đối với người lái xe ôm bán ma túy cho bị cáo H tại khu vực bến xe thành phố B, H khai không biết tên tuổi, địa chỉ, số điện thoại nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ để xử lý.
Đối với 02 viên ma túy T mua của bị cáo H, T đã sử dụng hết, Cơ quan điều tra không xác định được khối lượng nên không đề cập xử lý.
Đối với Nguyễn Văn T, Lê Tuấn Sơn L, Nguyễn Thị N2 và Trần Trung K có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy (trong đó: L, N2 và K khai đi mua ma túy của người khác không quen biết về sử dụng tại phòng trọ), Cơ quan điều tra chuyển tài liệu đến Công an huyện L để xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi này là phù hợp và có căn cứ.
Đối với hành vi đưa giấy bạc cho Nguyễn Văn T của Trần Thị T1, T1 khai không biết mục đích T dùng giấy bạc để làm gì nên Cơ quan điều tra không đề cập hình thức xử lý đối với T1.
Đối với việc Nguyễn Văn T, Lê Tuấn Sơn L, Nguyễn Thị N2 và Trần Trung K sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà trọ của Đỗ Thị H, H khai không biết việc các đối tượng này sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý H về hành vi “Chứa chấp sử dụng trái phép chất ma túy”.
[9] Về vật chứng:
Số vật chứng, tài sản đã chuyển theo hồ sơ để giải quyết, HĐXX thấy:
- 03 phong bì có ký hiệu “KT” và KX, trong đó có 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KT” (bên trong không chứa gì), 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KX” có ký hiệu “ Vỏ, bao gói hoàn lại của KX”, “HT786.23” và 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KX” (bên trong có chứa số ma túy hoàn lại sau giám định gồm 1,740g ma túy Methamphetamine và 2,773g ma túy Heroin; 01 bật lửa ga màu đỏ; 01 chai nhựa màu trắng có 02 ống hút; 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ; 01 hộp giấy màu vàng bên trong có 07 mảnh giấy bạc; 01 cân điện tử màu trắng, đây đều là vỏ, bao phong bì niêm phong hoàn lại sau giám định và số ma tuý được hoàn lại sau giám định; ma túy là chất cấm lưu hành, những vật chứng khác hoặc là công cụ dùng vào việc mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy, hoặc là không có, không còn giá trị nên đều bị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Đỗ Thị H là giấy tờ tùy thân không liên quan đến việc phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám là tài sản của bị cáo không liên quan đến hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
Số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo, trong đó 140.000đ có được do bán ma túy nên cần tịch thu sung vào công quỹ nhà nước, số còn lại (60.000đ) cần trả lại cho bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa, bị cáo không nhận lại số tiền này nên cần được sung vào công quỹ nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi nên được miễn án phí theo quy định.
[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Với những nhận định trên đây, HĐXX thấy những ý kiến của đại diện VKSND huyện đề nghị đối với HĐXX về đường lối giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự; Điều 292, 293 và Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự;
Xử phạt bị cáo Đỗ Thị H 03 (ba) năm 10 (mười) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, tạm giam ngày 23/12/2023.
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
-Về vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KT” (bên trong không chứa gì), 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KX” có ký hiệu “ Vỏ, bao gói hoàn lại của KX”, “HT786.23” và 01 phong bì có dấu niêm phong có ký hiệu “KX” (bên trong có chứa số ma túy hoàn lại sau giám định gồm 1,740g ma túy Methamphetamine và 2,773g ma túy Heroin, 01 bật lửa ga màu đỏ, 01 chai nhựa màu trắng có 02 ống hút, 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu đỏ, 01 hộp giấy màu vàng bên trong có 07 mảnh giấy bạc, 01 cân điện tử màu trắng.
- Trả lại bị cáo 01 căn cước công dân số [...] mang tên Đỗ Thị H, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh có ốp lưng bằng nhựa màu đen (số IMEI1: 864415050144935, IMEI2: 864415050144927, máy cũ đã qua sử dụng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu xám (có ốp lưng bằng nhựa màu trong suốt, máy cũ đã qua sử dụng, số IMEI1: 862211064841299, IMEI2: 862211064841281).
Tịch thu sung công quỹ nhà nước 200.000 đồng (đã thu giữ của bị cáo).
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang ngày 04/4/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Đỗ Thị H.
- Về quyền kháng cáo:
Căn cứ vào Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự
Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có mặt tại phiên tòa biết, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thân Hồng Giang |
Bản án số 36/2024/HSST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 36/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đỗ Văn H phạm tội "Mua bán trái phép chất ma tuý"
