|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/DS-ST
Ngày: 08-5-2024
V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Hữu Phúc
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Nhựt Thảo
- Ông Trương Thành Tuấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh Đào - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Bà Cao Thị Thu Hồng Em – Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 138/2020/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2020 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 159/2023/QĐXX-DS ngày 05 tháng 7 năm 2023, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 11/2023/QĐST-DS ngày 03 tháng 8 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Hữu Q, sinh năm 1977
Bà Hoàng Thị T, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số A khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.
Tạm trú: Tổ 02, khóm H, thị trấn A, huyện C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn:
Bà Trần Thị M, sinh năm 1969
Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 04/9/2020, quá trình tố tụng, nguyên đơn ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T trình bày: Ông Q và bà T có một quyền sử dụng đất diện tích 125,6m² thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06904 ngày 28/6/2019, thửa số 127, tờ bản đồ số 73 tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang đứng tên Lê Hữu Q và Hoàng Thị T, nguồn gốc đất do nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Trong quá trình sử dụng đất thì ông Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị M là người sử dụng đất giáp ranh xây dựng nhà lấn chiếm quyền sử dụng đất của ông Q bà T diện tích ngang khoảng 0,4m, dài 24,84m.
Ông Q và bà T khởi kiện yêu cầu ông T1 và bà M trả lại diện tích đất đã lấn chiếm ngang khoảng 0,4m, dài 24,84m.
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập bị đơn ông Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị M nhưng ông T1 và bà M đều vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Quá trình tố tụng ông Nguyễn Thành T1 chết vào ngày 30/7/2021 nên Tòa án đưa bà Trần Thị M tham gia tố tụng với tư cách người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông T1, đồng thời tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bà M không tham gia phiên họp và không trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T đồng ý với bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C. Bà Trần Thị M vắng mặt, không ghi nhận được ý kiến.
Tại phiên tòa,
- Nguyên đơn ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T thay đổi yêu cầu khởi kiện, do ông Nguyễn Thành T1 đã chết nên ông Q bà T chỉ yêu cầu bà Trần Thị M trả lại phần đất lấn chiếm diện tích 5,8m² theo các điểm mốc 37, 47, 40, 41 thể hiện trong bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022 của Văn phòng Đ - chi nhánh C, tỉnh An Giang.
- Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Trần Thị M vắng mặt không có lý do.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu:
- + Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- + Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm là 5,8m² theo các điểm mốc 37, 47, 40, 41 thể hiện trong bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ pháp luật: nguyên đơn yêu cầu bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm nên tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn được xác định là tranh chấp quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 9 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự.
1.2 Về tư cách tham gia tố tụng: quá trình tố tụng bị đơn Nguyễn Thành T1 chết ngày 30/7/2021, căn cứ biên bản lấy lời khai bà Trần Thị M ngày 25/4/2024, công văn số 801/UBND-HT ngày 09/8/2023 của Ủy ban nhân dân xã B, huyện C, tỉnh An Giang và công văn số 1189/CNCT ngày 09/8/2023 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C đính kèm bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10903 ngày 19/01/2022 có cơ sở xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Nguyễn Thành T1 chỉ có bà Trần Thị M. Hội đồng xét xử xác định bà Trần Thị M là bị đơn đồng thời là người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bị đơn Nguyễn Thành T1.
1.3 Về thẩm quyền giải quyết: đối tượng tranh chấp là quyền sử dụng đất tọa lạc tại ấp B, xã B, huyện C, tỉnh An Giang nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
1.4 Về sự có mặt của đương sự: Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Trần Thị M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do, căn cứ vào Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt đối với bà Trần Thị M.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Nguyên đơn ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T khởi kiện yêu cầu bị đơn ông Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị M trả lại phần diện tích đất đã lấn chiếm ngang khoảng 0,4m dài 28,84m. Phần đất lấn chiếm nằm trong diện tích đất mà nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06904 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp ngày 28/6/2019 cho ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T đối với diện tích đất 125,6m², thửa số 127, tờ bản đồ số 73, loại đất ở nông thôn tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
Tại phiên tòa ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T rút lại một phần yêu cầu khởi kiện, do hiện nay ông Nguyễn Thành T1 đã chết, bà Trần Thị M đã được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông Q và bà T chỉ yêu cầu bà Trần Thị M trả lại phần đất lấn chiếm là 5,8m² theo các điểm mốc thể hiện trong bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022, rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Thành T2.
Bị đơn, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của bị đơn bà Trần Thị M đã được Tòa án triệu tập tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng đều vắng mặt và không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
2.2 Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T thể hiện: nguồn gốc đất ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T nhận chuyển nhượng từ ông Trần Minh Á và bà Dương Thị T3 vào ngày 11/6/2019. Ngày 28/5/2019 Văn phòng Đ chi nhánh C tiến hành lập biên bản xác định ranh giới thửa đất, nhà ở hoặc công trình gắn liền với đất thửa số 127, tờ bản đồ số 73 của ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T thể hiện chiều ngang mặt trước là 4,90m, chiều ngang mặt sau là 5,20m, chiều dài bên trái là 24,84m, chiều dài bên phải là 24,93, có chữ ký của hộ giáp ranh là ông Nguyễn Thành T1. Ngày 28/6/2019 ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06904 với diện tích 125,6m².
Hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị M và ông Nguyễn Thành T1 thể hiện: nguồn gốc đất bà Trần Thị M và ông Nguyễn Thành T1 nhận chuyển nhượng từ ông Trần Minh Á và bà Dương Thị T3 vào ngày 11/6/2019. Ngày 28/5/2019 Văn phòng Đ chi nhánh C tiến hành lập biên bản xác định ranh giới thửa đất, nhà ở hoặc công trình gắn liền với đất thửa số 70, tờ bản đồ số 73 của ông Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị M thể hiện chiều ngang mặt trước là 8,77m, chiều ngang mặt sau là 9,17m, chiều dài bên trái là 24,68m, chiều dài bên phải là 24,84, có chữ ký của hộ giáp ranh là ông Lê Hữu Q. Ngày 28/6/2019 ông Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị M được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10903 với diện tích 222m².
Sau khi ông Nguyễn Thành T1 chết, ngày 19/01/2022 bà Trần Thị M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10903 ngày 19/01/2022 đối với thửa đất số 70, tờ bản đồ 73 diện tích 222m², loại đất ở nông thôn, nguồn gốc nhận thừa kế đất được công nhận QSDĐ như giao đất có thu tiền sử dụng đất, tọa lạc tại xã B, huyện C, tỉnh An Giang.
2.3 Bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C thể hiện phần đất ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06904 ngày 28/6/2019, thuộc thửa số 127, tờ bản đồ số 73, diện tích 125,6m² là các điểm 6, 37, 41, 38. Phần đất bà Trần Thị M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh A cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS10903 ngày 19/01/2022, thuộc thửa số 70, tờ bản đồ số 73, diện tích 222m² là các điểm 36, 37, 41, 44, 35. Hiện trạng sử dụng đất thực tế của bà Trần Thị M là tại các điểm 21, 19, 9, 35 với diện tích 227,9m². Hiện trạng sử dụng đất thực tế của ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T là tại các điểm 18, 6, 8, 10 với diện tích 126,7m².
2.4 Qua kết quả đo đạc thực tế thì ranh đất chung giữa ông Lê Hữu Q, bà Hoàng Thị T với ông Nguyễn Thành T1, bà Trần Thị M được xác định là các điểm 37, 41. Ông Nguyễn Thành T1, bà Trần Thị M sử dụng lấn chiếm phần đất của ông Lê Hữu Q, bà Hoàng Thị T theo các điểm 37, 47, 40, 41. Công văn số 576/CNCT ngày 28/4/2023 của Văn phòng Đ chi nhánh C xác định các điểm 37, 47, 40, 41 có diện tích 5,80m², do đó yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu Q, bà Hoàng Thị T là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Do ông Nguyễn Thành T1 đã chết, bà Trần Thị M được cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và là người duy nhất quản lý phần diện tích đất theo giấy chứng nhận số CS10903 ngày 19/01/2022, thuộc thửa số 70, tờ bản đồ số 73, diện tích 222m², ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T cũng chỉ yêu cầu bà Trần Thị M trả lại diện tích đất lấn chiếm nên cần buộc bà Trần Thị M trả lại phần đất lấn chiếm là 5,80m² cho ông Lê Hữu Q, bà Hoàng Thị T.
2.5 Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 14/01/2022 thể hiện trên phần đất tranh chấp có các tài sản gồm:
- + 01 căn nhà gạch diện tích 112,5m² của ông Nguyễn Thành T1 và bà Trần Thị M, nhà có kết cấu nền lót gạch ceramic, vách xây gạch, cột bê tông cốt thép, mái lợp tole.
- + 01 hàng rào bằng sắt dài 10m.
Qua xem xét bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022 của Văn phòng Đ chi nhánh C và biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ bổ sung ngày 01/12/2023 có cơ sở xác định phần tài sản nói trên không nằm trong phần đất tranh chấp nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
2.6 Tại phiên tòa ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T rút lại yêu cầu khởi kiện đối với ông Nguyễn Thành T1 do ông T1 đã chết vào ngày 30/7/2021, phần đất hiện nay do một mình bà Trần Thị M là người trực tiếp quản lý và đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đồng thời yêu cầu bà Trần Thị M trả lại diện tích đất lấn chiếm là 5,8m². Xét thấy việc rút lại một phần yêu cầu khởi kiện của ông Q và bà T là tự nguyện nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu đã rút.
[3] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ vào quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- - Nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện nên được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- - Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
[4] Về chi phí tố tụng khác: do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng khác:
- - Chi phí đo đạc: 1.532.520 đồng (một triệu năm trăm ba mươi hai ngàn năm trăm hai mươi đồng)
- - Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: 1.000.000 đồng (một triệu đồng)
- - Chi phí trích lục hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất 168.000 đồng (một trăm sáu mươi tám ngàn đồng)
Các chi phí này tổng cộng là 2.700.520 đồng (hai triệu bảy trăm ngàn năm trăm hai mươi đồng), nguyên đơn đã nộp xong nên bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn
[5] Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định tại khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 158, Điều 227, Điều 228, Điều 244, khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 166 Bộ luật Dân sự; Điều 166, Điều 203 Luật đất đai; Khoản 2 Điều 26, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thi T4.
- Đình chỉ xét xử phần yêu cầu của ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thi T4 đối với ông Nguyễn Thành T1; Đình chỉ xét xử phần yêu cầu đối với diện tích 4,136m² ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thi T4 rút lại.
- Về án phí sơ thẩm:
- - Ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T được nhận lại số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007164 ngày 06/10/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh An Giang.
- - Bà Trần Thị M phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Về chi phí tố tụng khác:
- Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 08/5/2024). Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
Buộc bà Trần Thị M trả lại cho ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T phần đất diện tích 5,80m² tại các điểm 37, 47, 40, 41 theo bản đồ hiện trạng ngày 13/8/2022 của Văn phòng Đ – Chi nhánh C, thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS06904 ngày 28/6/2019, thửa số 127, tờ bản đồ số 73.
Buộc bà Trần Thị M hoàn trả cho ông Lê Hữu Q và bà Hoàng Thị T số tiền 2.700.520 đồng (hai triệu bảy trăm ngàn năm trăm hai mươi đồng).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đỗ Hữu Phúc |
Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 08/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 36/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện
