Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ ĐÔNG HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

Bản án số: 36/2024/HS-ST.

Ngày: 07-9-2024.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Hữu Duyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phan Tấn Minh.
  2. Ông Nguyễn Bá Tòng.

Thư ký phiên tòa: bà Nguyễn Thị Thanh Thái - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: ông Trần Bảo Pháp - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Đông Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 44/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 21/2024/HPT-QĐ ngày 19/8/2024, đối với bị cáo:

Hoàng Văn Đ, sinh ngày 30/7/1998, tại tỉnh Bình Phước (tên gọi khác: không); nơi đăng ký thường trú: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước; nơi tạm trú khi bị bắt tạm giữ: khu phố T, Phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Hoa; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn S, sinh năm 1970 và bà Đinh Thị D, sinh năm 1977; anh, em ruột: có 03 người, bị cáo là con út; vợ: Lã Thị B, sinh năm 1998; có 02 con cùng sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt, tạm giam ngày từ ngày 15/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm, có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  • - Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1974; Nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị M, sinh năm 1974; Nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Trần Thị L, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Khu phố C, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị N, sinh năm 1974; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị Hạnh N1, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Dương Thị Thu H, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị M1, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Hà Thị Đ1, sinh năm 1958; thôn T, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị D1, sinh năm 1967; Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Phạm Thị V, sinh năm 1980; Nơi cư trú: Khu phố A, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1975; Nơi cư trú: Thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Trần Thị X, sinh năm 1964; Nơi cư trú: Khu phố N, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Trần Thị C, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị Mỹ D2, sinh năm 1970; Nơi cư trú: khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Lương Thị H1, sinh năm 1984; Nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị Y, sinh năm 1972; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Có mặt).
  • - Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1982; Nơi cư trú: Khu phố B, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Phan Thị Quỳnh G, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Khu phố Đ, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Đặng Tấn L2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Đặng Thị M2, sinh năm 1973; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).
  • - Nguyễn Thị H2, sinh năm 1977; Nơi cư trú: Khu phố M, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt – có đơn xin xét xử vắng mặt).
  • - Đào Kim T2, sinh năm 1985; Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 8/2023 đến tháng 01/2024, Hoàng Văn Đ thuê nhà, tạm trú tại khu phố T, phường H, thành phố T, tỉnh Phú Yên, Đ in nội dung quảng cáo cho vay tiền và số điện thoại 0346.588.xxx của Đ trên giấy, điều khiển xe mô tô đi rải quảng cáo ở các tuyến đường trên địa bàn thị xã Đ, nhằm tìm người có nhu cầu vay tiền. Khi người vay liên hệ, Đ hẹn gặp và trao đổi với người vay về hình thức, phí và phương thức trả tiền vay, đồng thời chụp hình căn cước công dân của người vay. Đ cung cấp các gói vay từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, với lãi suất 0,833% ngày tương đương 304%/năm, gấp 15,2 lần lãi suất tối đa quy định trong Bộ luật dân sự, thời gian vay 24 ngày. Đ thu trước phí vay 5%, thu trước tiền lãi, tiền gốc ngày đầu; Đức tính tổng số tiền gốc và lãi (tiền gốc bao gồm cả tiền phí thu trước và tiền lãi, gốc thu trước) chia đều 24 ngày (gồm 01 ngày thu trước) để người vay trả góp cho Đ, người vay trả tiền gốc và lãi theo ngày trực tiếp cho Đ hoặc chuyển tiền đến số tài khoản ngân hàng của Đ. Các gói vay từ 2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng, Đ sẽ thu của người vay tiền gốc và lãi tương ứng gói vay số tiền từ 100.000 đồng/ngày đến 250.000 đồng/ngày. Sau khi thỏa thuận thống nhất, Đ chuyển tiền và thu tiền vay trực tiếp hoặc thông qua tài khoản số 6550895740 thuộc ngân hàng Đ2. Quá trình điều tra, truy tố xác định:

  • - Từ tháng 08/2023 đến tháng 09/2023, Đ cho Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1974, trú khu phố P, phường H, thị xã Đ vay số tiền 3.000.000 đồng, thu trước 1 ngày và phí 5% nên thực tế Đ đưa cho T 2.700.000 đồng; T trả 18 ngày được 2.700.000 đồng, còn 6 ngày T chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 710.548 đồng.
  • - Từ tháng 08/2023 đến ngày 26/10/2023, Đ cho Nguyễn Thị M, sinh năm 1973, trú khu phố P, phường H, thị xã Đ vay 05 lần, mỗi gói đều vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 15.000.000 đồng; gói đầu Đ đưa 2.700.000 đồng, các gói sau M chưa trả đủ và Đ đưa cho M các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 đưa thêm 1.500.000 đồng, lần 3 đưa thêm 1.350.000 đồng, lần 4 đưa thêm 1.800.000 đồng, lần cuối đưa 1.050.000 đồng nhưng M đều phải chịu số tiền gốc 3.000.000 đồng; đợt vay cuối Mộng trả được 14 ngày, còn 10 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 3.552.740 đồng.
  • - Từ ngày 20/10/2023 đến ngày 03/11/2023, Đ cho Trần Thị L, sinh năm 1983, trú khu phố C, phường H, thị xã Đ vay 02 lần, mỗi gói đều vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 6.000.000 đồng, lần đầu Đ đưa L 2.700.000 đồng, L có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa thêm 1.200.000 đồng; L trả được 12 ngày, chưa trả 12 ngày; Đ thu lợi bất chính số tiền 1.421.096 đồng.
  • - Từ ngày 21/10/2023 đến ngày 23/12/2023, Đ cho Nguyễn Thị N, sinh năm 1974, trú khu phố P, phường H, thị xã Đ vay 04 lần, mỗi lần đều vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 12.000.000 đồng; Năm không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho N các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 đưa thêm 1.650.000 đồng, lần 3 đưa thêm 2.100.000 đồng, lần 4 đưa thêm 1.650.000 đồng, đợt vay cuối còn 04 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 2.818.836 đồng.
  • - Từ ngày 09/11/2023 đến ngày 28/12/2023, Đ cho Nguyễn Thị Hạnh N1, sinh năm 1990, trú khu phố B, phường H, thị xã Đ vay 05 lần, mỗi gói đều vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 15.000.000 đồng; N1 không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho N1 các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 đưa thêm 1.050.000 đồng, lần 3 đưa thêm 900.000 đồng, lần 4 đưa thêm 450.000 đồng, lần 5 đưa thêm 730.000 đồng; trả 12 ngày còn nợ 12 ngày; Đ thu lợi bất chính số tiền 3.412.603 đồng.
  • - Từ ngày 13/11/2023 đến ngày 29/12/2023, Đ cho Dương Thị Thu H, sinh năm 1988, trú khu phố P, phường H, thị xã Đ vay 03 lần, mỗi gói đều vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 9.000.000 đồng; H không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho H các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 đưa 2.250.000 đồng, lần 3 đưa thêm 2.100.000 đồng, còn 10 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 1.968.151 đồng.
  • - Từ tháng 11/2023 đến ngày 21/12/2023, Đ cho Nguyễn Thị M1, sinh năm 1972, trú khu phố B, phường H, thị xã Đ vay 02 lần, mỗi gói vay đều 3.000.000 đồng với tổng số tiền 6.000.000 đồng, còn 01 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 1.421.096 đồng.
  • - Từ tháng 11/2023 đến tháng 12/2023, Đ cho Hà Thị Đ1, sinh năm 1958, trú thôn T, xã H, thị xã Đ vay 02 lần với tổng số tiền 4.000.000 đồng, Đ1 góp đủ gốc và lãi; Đ thu lợi bất chính số tiền 947.398 đồng.
  • - Từ ngày 10/12/2023 đến ngày 29/12/2023, Đ cho Nguyễn Thị D1, sinh năm 1967, trú khu phố B, phường H, thị xã Đ vay 02 lần, mỗi gói vay 2.000.000 đồng với tổng số tiền 4.000.000 đồng; D1 không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa thêm 1.000.000 đồng, còn 13 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 838.402 đồng.
  • - Từ ngày 25/10/2023 đến ngày 01/01/2024, Đ cho Phạm Thị V, sinh năm 1980, trú Khu phố A, phường H, thị xã Đ vay 04 lần với tổng số tiền 18.000.000 đồng; 02 gói đầu mỗi gói 5.000.000 đồng, 02 gói sau mỗi gói 4.000.000 đồng, 03 gói đầu V trả đủ, gói cuối V trả 14 ngày còn 10 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 3.951.873 đồng.
  • - Từ tháng 10/2023 đến ngày 01/01/2024, Đ cho Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm 1975, trú thôn P, xã H, thị xã Đ vay 04 lần, mỗi gói vay 5.000.000 đồng với tổng số tiền 20.000.000 đồng; 02 gói đầu T1 góp đủ, gói 3 trả thiếu 01 ngày nên gói 4 Đ đưa thêm 4.250.000 đồng, trả được 14 ngày còn 10 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 4.347.718 đồng.
  • - Từ tháng 10/2023 đến ngày 10/01/2024, Đ cho Trần Thị X, sinh năm 1964, trú khu phố N, phường H, thị xã Đ vay 04 lần, mỗi gói 3.000.000 đồng với tổng số tiền 12.000.000 đồng; X không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho X các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2, lần 3 Đ đưa thêm 2.100.000 đồng, lần 4 đưa thêm 450.000 đồng; đợt cuối trả được 04 ngày còn 20 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 2.398.425 đồng.
  • - Từ tháng 11/2023 đến tháng 01/2024, Đ cho Trần Thị C, sinh năm 1973, trú khu phố B, phường H, thị xã Đ vay 03 lần, gói vay lần đầu 5.000.000 đồng, 02 gói sau mỗi gói 3.000.000 đồng với tổng số tiền 11.000.000 đồng; C không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho C các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 Đ đưa 2.200.000 đồng, lần 3 Đ đưa thêm 1.700.000 đồng; đợt cuối trả 15 ngày còn nợ 09 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 2.325.069 đồng.
  • - Từ ngày 12/11/2023 đến ngày 07/01/2024, Đ cho Nguyễn Thị Mỹ D2, sinh năm 1970, trú Khu phố B, phường H, thị xã Đ vay 03 lần, mỗi gói vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 9.000.000 đồng; D2 không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho D2 các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2, lần 3 Đức đều đưa 900.000 đồng; lần cuối trả 7 ngày còn nợ 17 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 1.757.945 đồng.
  • - Từ ngày 15/11/2023 đến ngày 11/01/2024, Đ cho Lương Thị H1, sinh năm 1984, trú khu phố P, phường H, thị xã Đ vay 06 lần, mỗi gói vay 5.000.000 đồng với tổng số tiền 30.000.000 đồng; H1 không có khả năng trả hết gói đầu nên Đ đưa cho H1 các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 Đ đưa 1.500.000 đồng, lần 3 đưa 500.000 đồng, lần 4 đưa 1.500.000 đồng, lần 5 đưa 750.000 đồng, lần cuối đưa 500.000 đồng; đợt vay cuối H1 trả 3 ngày còn 21 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 6.326.943 đồng.
  • - Từ ngày 16/11/2023 đến ngày 04/01/2024, Đ cho Nguyễn Thị Y, sinh năm 1972, trú khu phố P, phường H, thị xã Đ vay 05 lần, mỗi gói vay 3.000.000 đồng với tổng số tiền 15.000.000 đồng; lần đầu trả đủ, từ đợt vay lần 2 Yên không có khả năng trả nên đưa cho Y các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 3 đưa 600.000 đồng, lần 4 đưa 750.000 đồng, lần 5 đưa 450.000 đồng; đợt cuối trả 4 ngày còn 20 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 3.249.110 đồng.
  • - Từ ngày 22/11/2023 đến ngày 09/01/2024, Đ cho Trần Thị Ngọc L1, sinh năm 1982, trú khu phố B, phường H, thị xã Đ vay 04 lần, gói vay đầu 5.000.000 đồng, 03 lần vay sau mỗi gói 3.000.000 đồng, với tổng số tiền 14.000.000 đồng; L1 không có khả năng trả hết gói đầu nên đưa cho L1 các lần vay sau số tiền cụ thể: lần 2 đưa 750.000 đồng, lần 3 đưa 1.650.000 đồng, lần cuối đưa 1.350.000 đồng; lần cuối L1 trả được 6 ngày còn 18 ngày chưa trả; Đ thu lợi bất chính số tiền 2.895.480 đồng.

Về dân sự: Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không yêu cầu giải quyết phần dân sự.

Tại bản cáo trạng số: 28/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa truy tố Hoàng Văn Đ về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

  • * Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố là đúng tội, xin được giảm nhẹ hình phạt.
  • * Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên truy tố theo Cáo trạng số: 28/CT-VKSĐH ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Đông Hòa. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hoàng Văn Đ 27 tháng đến 30 tháng Cải tạo không giam giữ, được trừ vào thời gian tạm giữ từ ngày 15/01/2024 đến ngày xét xử sơ thẩm, thời hạn tính từ ngày Cơ quan thi hành án cấp huyện nơi bị cáo cư trú nhận được quyết định thi hành án; không khấu trừ thu nhập. Bị cáo được trả tự do ngay tại toà.
  • - Về biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, 47 BLHS, điểm a, b khoản 1 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
  • + Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải nộp lại phương tiện phạm tội là khoản tiền cho vay (tiền gốc) mà bị cáo sử dụng cho vay là 119.180.000 đồng để sung quỹ Nhà nước.
  • + Buộc bị cáo Đ phải nộp lại khoản tiền lãi phát sinh từ tội phạm, tương ứng với mức lãi suất 20%/năm là 1.019.951 đồng để sung quỹ Nhà nước.
  • + Bị cáo Đ chuyển cho bà Nguyễn Thị D1 tổng cộng 2.800.000 đồng tiền gốc, bà D1 trả cho Đ tổng cộng 2.700.000 đồng. Do đó, buộc bà Nguyễn Thị D1 phải nộp sung quỹ Nhà nước số tiền 100.000 đồng.
  • - Về trách nhiệm dân sự, các khoản tiền liên quan đến tội phạm: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS, Điều 584, 589 BLDS; khoản 2 Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
  • + Bị cáo Hoàng Văn Đ phải trả cho người vay phát sinh từ tội phạm phải là 39.250.049 đồng (gồm tiền phí thu trước và tiền lãi vượt quá 20%/năm). Những người vay không yêu cầu giải quyết, đây là khoản tiền thu lợi bất chính liên quan trực tiếp đến tội phạm nên buộc bị cáo Hoàng Văn Đ nộp lại để sung quỹ Nhà nước.
  • - Xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 78C1-501.51; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 78C1-501.51; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax; 01 (một) điện thoại di động hiệu N2; số tiền 2.900.000 đồng tại nộp vào Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền ngày 19/3/2024.
  • + Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) thẻ ATM số 9704186930000720300 ngân hàng B1; 02 thẻ sim điện thoại số 0868.113.xxx, 0346588197.
  • + Trả lại 01 Căn cước công dân số [...] tên Hoàng Văn Đ cho bị cáo.
  • + Tiếp tục phong toả số tiền 7.623.371 đồng của bị cáo tại tài khoản 6550895740 thuộc ngân hàng Đ1 để đảm bảo thi hành án.
  • - Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự, dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Việc Cáo trạng xác định số tiền Đ cho 17 người vay với số tiền tổng cộng là 203.000.000 đồng và Đ thu lợi bất chính số tiền 44.343.433 đồng. Tuy nhiên, hồ sơ vụ án không có tài liệu, chứng cứ khác để xác định đúng, đủ số tiền gốc thực tế Đ bỏ ra cho vay, số tiền của người vay thực nhận tiền từ Đ, cũng như số tiền thu lợi bất chính Đ phải trả cho người vay, số tiền người vay còn nợ Đ để làm căn cứ xử lý tiền liên quan đến hành vi phạm tội của Đ, số tiền thu lợi bất chính và trách nhiệm dân sự theo quy định tại Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Toà án đã ra Quyết định trả hồ số: 02/2024/HSST-QĐ ngày 22/5/2024 và Hội đồng xét xử đã ra Quyết định trả hồ số: 05/2024/HSST-QĐ ngày 26/7/2024 để làm rõ và xác định đúng, đủ khoản tiền nêu trên. Tuy nhiên, Viện kiểm sát không bổ sung được những vấn đề mà Tòa án yêu cầu, giữ nguyên quyết định truy tố và cho rằng đã xác định đúng, đủ số tiền gốc Đ bỏ ra cho vay và khoản tiền thu lợi bất chính. Căn cứ khoản 3 Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án và sẽ xem xét số tiền Đ thực tế bỏ ra cho vay; số tiền thu lợi bất chính và trách nhiệm dân sự theo quy định pháp luật dân sự và Điều 5 Nghị quyết số 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

[2] Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng không bị khiếu nại, việc điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt; tuy nhiên, những người này đều đã có lời khai tại Cơ quan điều tra, không yêu cầu giải quyết về dân sự. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử về tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố; do đó, chấp nhận ý kiến của bị cáo Đ, ý kiến của Kiểm sát viên; căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[4] Về hành vi của bị cáo: Tại phiên toà, bị cáo Hoàng Văn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với kết quả kiểm tra tài khoản ngân hàng, dữ liệu điện tử. Như vậy, đủ căn cứ kết luận:

Khoảng tháng 8/2023 đến tháng 01/2024, tại thị xã Đ, Hoàng Văn Đ có hành vi cấp vốn cho Nguyễn Thị Kim T, Nguyễn Thị M, Trần Thị X, Nguyễn Thị Thanh T1, Trần Thị L, Nguyễn Thị N, Phạm Thị V, Nguyễn Thị M1, Trần Thị C, Hà Thị Đ1, Nguyễn Thị Hạnh N1, Nguyễn Thị Mỹ D2, Dương Thị Thu H, Lương Thị H1, Nguyễn Thị Y, Trần Thị Ngọc L1, Nguyễn Thị D1 vay nhiều kỳ với tổng số tiền xác định trách nhiệm hình sự là 203.000.000 đồng, với lãi suất từ 304,17% đến trên 500%/năm, Đ thu lợi bất chính số tiền 39.250.049 đồng (gồm tiền lãi vượt quá 20%/năm và khoản tiền phí thu trước). Do đó, cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

[5] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, thấy: Bị cáo Hoàng Văn Đ là người đủ tuổi và đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bản thân bị cáo nhận thức hành vi cho vay với lãi suất từ 100%/năm trở lên để thu lợi bất chính là nguy hiểm cho xã hội; nhưng vì muốn có thu nhập cao nên bị cáo đã bất chấp thực hiện. Hành vi của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của nhà nước về tín dụng, kinh doanh tiền tệ, mà còn xâm phạm đến lợi ích của công dân; làm mất trật tự trị an, gây bất bình trong dư luận; nên cần xử phạt nghiêm, ngoài hình phạt chính, cần áp dụng hình phạt bổ sung để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này đang có xu hướng gia tăng ở địa phương.

[6] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng quy định tại i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt cho bị cáo. Khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự quy định mức hình phạt “bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm”; tuy nhiên, bị cáo đã bị tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay là 07 tháng 23 ngày cũng tác dụng đủ răn đe, giáo dục để bị cáo nhận thức rõ về hành vi sai trái của mình. Căn cứ khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự, trả tự do ngay tại toà cho bị cáo nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

[7] Về trách nhiệm dân sự, xử lý tiền liên quan đến tội phạm: Do 17 người vay tiền đều sử dụng để sinh hoạt hằng ngày, không dùng vào mục đích bất hợp pháp, nên bị cáo Đ phải có trách nhiệm trả lại cho người vay tiền thu lợi bất chính mà bị cáo thực tế đã thu với tổng số tiền thu lợi bất chính 39.250.049 đồng (gồm: 29.110.049 đồng tiền lãi vượt trên 20%/năm và 10.150.000 đồng khoản tiền, phí vay thu trước) như Kiểm sát viên xác định là có căn cứ theo nguyên tắc có lợi cho bị cáo và những người vay; những người vay không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét. Tuy nhiên, đây là tiền trực tiếp liên quan đến tội phạm; nhằm bảo đảm yêu cầu đấu tranh phòng, chống tội phạm, nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, buộc bị cáo phải nộp lại để sung quỹ Nhà nước 39.250.049 đồng.

[8] Biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thấy rằng:

[8.1] Số tiền 203.000.000 đồng cho vay (tiền gốc theo lý thuyết), đây được xem là phương tiện phạm tội để xác định trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, số tiền cho vay có tính chất xoay vòng vốn, sau khi người vay chưa trả hết khoản vay, bị cáo tiếp tục lấy tiền gốc và tiền thu lợi bất chính của gói vay trước để cho vay lại; do đó, trên cơ sở lời khai của bị cáo đối chiếu với các tài liệu có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xác định số tiền thực tế mà bị cáo Đ sử dụng cho vay là 119.180.000 đồng như Kiểm sát viên xác định tại phiên toà để buộc bị cáo phải nộp lại sung quỹ Nhà nước là phù hợp.

[8.2] Đối với khoản tiền lãi tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự; tuy không bị tính khi xác định trách nhiệm hình sự, nhưng đây lại là khoản tiền phát sinh từ tội phạm, với số tiền 1.019.951 đồng được Kiểm sát viên xác định tại phiên toà là có căn cứ; nên buộc bị cáo nộp lại để sung quỹ Nhà nước.

[8.3] Trên cơ sở lời khai của những người vay phù hợp với lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử xác định, sau khi khấu trừ tiền thu lợi bất chính, số tiền người vay thực nhận của Đ và khoản tiền người vay đã trả Đ, chỉ có bà Nguyễn Thị Dư n của Đ tổng cộng 2.800.000 đồng, bà D1 thực trả cho Đ số tiền 2.700.000 đồng, còn phải trả Đ 100.000 đồng. Đây là khoản tiền trực tiếp phát sinh từ tội phạm. Do đó, bà Nguyễn Thị D1 phải nộp lại số tiền 100.000 đồng để sung quỹ Nhà nước như ý kiến của Kiểm sát viên là có căn cứ.

[9] Biện pháp cưỡng chế: Bị cáo Hoàng Văn Đ còn phải tiếp tục thi hành biện pháp tư pháp và quyết định khác của Bản án; nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, tiếp tục phong tỏa số tiền 7.623.371 đồng tại tài khoản số 6550895740 thuộc ngân hàng Đ2 của bị cáo để bảo đảm thi hành án.

[10] Xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án:

[10.1] Đối với: 01 (một) xe mô tô biển số 78C1-501.51, nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ, số máy: JA39E0650323, số khung: 3900HY672675, đã qua sử dụng; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 038718, biển số 78C1-501.51; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám đen, số máy MWGF2LL/A, số sêri G6TCVAZUN7OC; 01 điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số Imei 355406842255143, 3554066842255142; 02 thẻ sim điện thoại số 0868.113.xxx, 0346588197; 01 thẻ ATM số 9704186930000720300 ngân hàng B1, tên Hoang Van D3 – tất cả là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội, trong đó 02 thẻ sim điện thoại và 01 thẻ ATM không còn giá trị sử dụng; nên chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

[10.2] Hoàn trả lại 01 Căn cước công dân số [...] tên Hoàng Văn Đ cho bị cáo Hoàng Văn Đ.

[10.3] Số tiền 2.900.000 đồng là tiền của Đ thu từ người vay, thuộc số tiền gốc Đ dùng vào việc phạm tội và tiền thu lợi bất chính đã bị sung quỹ nhà nước. Do đó, tiếp tục tạm giữ số tiền 2.900.000 đồng của bị cáo đã nộp vào Kho bạc nhà nước để đảm bảo thi hành án.

[11] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: bị cáo Hoàng Văn Đ phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”.

Phạt: bị cáo Hoàng Văn Đ 23 (hai mươi ba) tháng 09 (chín) ngày Cải tạo không giam giữ, bằng thời gian tạm giam 7 tháng 23 ngày (từ ngày 15/01/2024 đến ngày 07/9/2024), đã chấp hành xong; không khấu trừ thu nhập.

Phạt bổ sung: 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).

Áp dụng khoản 3 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả tự do ngay tại phiên toà cho bị cáo Hoàng Văn Đ nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

2. Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 589 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải nộp lại khoản tiền thu lợi bất chính (gồm tiền lãi vượt trên 20%/năm và khoản tiền, phí vay thu trước) phát sinh từ tội phạm là 39.250.049₫ (Ba mươi chín triệu hai trăm năm mươi nghìn không trăm bốn mươi chín đồng) để sung quỹ Nhà nước.

3. Biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 5, Điều 6 Nghị quyết số: 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.

3.1. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải nộp lại khoản tiền cho vay (tiền gốc) 119.180.000đ (Một trăm mười chín triệu một trăm tám mươi nghìn đồng) là phương tiện phạm tội để sung quỹ Nhà nước.

3.2. Buộc bị cáo Hoàng Văn Đ phải nộp lại khoản tiền lãi phát sinh từ tội phạm, tương ứng với mức lãi suất 20%/năm, mức lãi suất cao nhất theo quy định của Bộ luật Dân sự là 1.019.951đ (Một triệu không trăm mười chín nghìn chín trăm năm mươi mốt đồng) để sung quỹ Nhà nước.

3.3. Buộc bà Nguyễn Thị D1 phải giao nộp lại số tiền 100.000đ (Một trăm nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.

4. Biện pháp cưỡng chế: Áp dụng Điều 129 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tiếp tục phong tỏa số tiền 7.623.371 đồng tại tài khoản số 6550895740 thuộc ngân hàng Đ2 của bị cáo Hoàng Văn Đ để bảo đảm thi hành án. Tài khoản phong tỏa giao cho bị cáo Hoàng Văn Đ có trách nhiệm quản lý cho đến khi có quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Nếu có hành vi giải tỏa tài khoản bị phong tỏa thì phải chịu trách nhiệm theo quy định của Bộ luật Hình sự.

5. Xử lý vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

5.1. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe mô tô biển số 78C1-501.51, nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ, số máy: JA39E0650323, số khung: 3900HY672675, đã qua sử dụng; 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 038718, biển số 78C1-501.51; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám đen, số máy MWGF2LL/A, số sêri G6TCVAZUN7OC, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia, màu xanh, số I 355406842255143, 3554066842255142, đã qua sử dụng.

5.2. Tịch thu, tiêu huỷ: 01 (một) thẻ ATM số 9704186930000720300 ngân hàng B1, tên Hoang Van D3; 02 thẻ sim điện thoại số 0868.113.xxx, 0346588197

5.3. Tiếp tục tạm giữ số tiền 2.900.000đ (Hai triệu chín trăm nghìn đồng) của Hoàng Văn Đ đã nộp vào Kho bạc nhà nước theo Giấy nộp tiền ngày 19/3/2024 để đảm bảo việc thi hành án.

5.4. Hoàn trả lại 01 Căn cước công dân số [...] cho bị cáo Hoàng Văn Đ.

Vật chứng, tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án có tình trạng, đặc điểm như mô tả tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 15/5/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Đ với Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Đông Hòa.

6. Về án phí: áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.

Bị cáo Hoàng Văn Đ phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn Đ, đương sự Nguyễn Thị Y có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Phú Yên;
  • - VKSND Thị xã, Tỉnh;
  • - Công an thị xã Đông Hoà;
  • - THADS thị xã Đông Hoà;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng;.
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Duyên

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 07/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ ĐÔNG HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng tháng 8/2023 đến tháng 01/2024, tại thị xã Đông Hòa, Hoàng Văn Đ có hành vi cấp vốn cho 17 người vay nhiều kỳ với tổng số tiền xác định trách nhiệm hình sự là 203.000.000 đồng, với lãi suất từ 304,17% đến trên 500%/năm, Đ thu lợi bất chính số tiền 39.250.049 đồng (gồm tiền lãi vượt quá 20%/năm và khoản tiền phí thu trước)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger