Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MANG THÍT

TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST
Ngày 07-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Bích

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Phẩm

Ông Lê Thành Tam

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Liên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Dương - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Mang Thít, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2024/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1979 tại xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T (chết) và bà Huỳnh Thị Đ (chết); có vợ Nguyễn Thị M; có 03 con (lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2009); có 06 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1972, nhỏ nhất sinh năm 1984); tiền án: không.

    Tiền sự: 01: Ngày 22/5/2023 bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 25/5/2023.

    Nhân thân: Ngày 20/10/2015 bị Công an huyện M, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 05/11/2019 có vi phạm về Vi phạm các quy định về nghiên cứu, thăm dò, khai thác tài nguyên; bị Phòng C2 Công an tỉnh B xử phạt, theo Quyết định số 100/QĐ-XPHC.

    Hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  2. Lê Văn K, sinh năm 1957 tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn C (chết) và bà Nguyễn Thị D (chết); có vợ Sơn Thị C1; có 03 con (lớn nhất sinh năm 1979, nhỏ nhất sinh năm 1982); có 05 anh em ruột (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 1973); tiền án: không; tiền sự: 01: Ngày 22/5/2023 bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 25/5/2023; nhân thân: chưa có án tích, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đã được xóa; hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

  3. Đặng Minh H, sinh năm 1963 tại Trạm y tế P1, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long. Nơi cư trú: ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn H1 (chết) và bà Lê Thị B (chết); có vợ Nguyễn Thị P; có 03 con (lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1991); có 05 anh chị em ruột (lớn nhất sinh năm 1953, nhỏ nhất sinh năm 1965); tiền án: không.

    Tiền sự: 01: Ngày 22/5/2023 bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 25/5/2023.

    Nhân thân: Ngày 11/01/2021 bị Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội Công an tỉnh V ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”.

    Hiện bị cáo đang tại ngoại và có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. Ông Đỗ Thành H2, sinh năm 1980 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

  2. Bà Nguyễn Thị Kim T1, sinh năm 1983 (vắng mặt)

    Địa chỉ: 286/1, Khóm D, Phường I, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long

  3. Bà Đặng Thị Bích N, sinh năm 1989 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp H, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long

  4. Bà Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1982 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

  5. Ông Nguyễn Hoàng Thanh B1, sinh năm 1973 (vắng mặt)

    Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/5/2023 các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 25/5/2023.

Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 28/12/2023, bị cáo Q, bị cáo K, bị cáo HĐỗ Thành H2 ngồi uống cà phê tại Quán của người phụ nữ không rõ họ tên, thuộc: ấp L, xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long. Lúc này bị cáo K rủ H, QH2 cùng tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền tại nhà của Q thì tất cả đồng ý. Sau đó Q đi về trước để mua bài và nước uống. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, K, HH2 đến nhà Q để tham gia đánh bài ăn thua bằng tiền. Tất cả 04 người ngồi đánh bài trên ghế nhựa, có tựa lưng màu xanh và có bàn nhựa màu xanh đã qua sử dụng ở giữa làm chiếu bạc. Hình thức đánh bạc là đánh bài tây 52 lá Binh xập xám, mỗi ván bài được thua bằng tiền là: 5.000 đồng, người làm cái (chia bài) thì được ăn thua với 03 người còn lại và ngược lại người không làm cái thì ăn thua với người làm cái, mỗi người làm cái 03 (ba) ván bài theo chiều ngược kim đồng hồ, làm cái xoay vòng, nếu trong ván bài có ai bãi bài (tới trắng) thì ba người còn lại chung cho người bãi là 5.000 đồng và người bãi bỏ vào một cái ca mũ 5.000 đồng để trả tiền mua bài và mua nước uống. K là người làm cái đầu tiên, kế đến là H2, HQ. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi đánh được khoảng 20 ván bài thì Công an xã L, huyện M đến tiến hành kiểm tra và lập biên bản sự việc đánh bài ăn thua bằng tiền đối với các đối tượng trên.

*Tang vật và đồ vật thu giữ bao gồm:

  • 03 (ba) bộ bài tây 52 lá (01 bộ bài đã qua sử dụng và 02 bộ bài chưa qua sử dụng);
  • 01 (một) cái bàn nhựa màu xanh, có chiều ngang 34 cm, dài 64 cm, cao 50 cm, đã qua sử dụng.
  • 04 (bốn) cái ghế nhựa màu xanh, có chiều ngang 38 cm, chiều cao 69 cm, đã qua sử dụng.
  • 01 (một) cái ca nhựa màu trắng, miệng ca 12 cm, chiều cao 15 cm, đã qua sử dụng.
  • Tiền Việt Nam 70.000 đồng thu trên người của Nguyễn Hữu Q;
  • Tiền Việt Nam 170.000 đồng thu trên người của Đặng Minh H;
  • Tiền Việt Nam 490.000 đồng thu trên người của Lê Văn K;
  • Tiền Việt Nam 240.000 đồng thu trên người của Đỗ Thành H2;

Qua làm việc với Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh HĐỗ Thành H2 đã thừa nhận hành vi đánh bạc (đánh bài) ăn thua bằng tiền của mình. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh các đối tượng đánh bạc cụ thể như sau:

  • - Nguyễn Hữu Q khi đến địa điểm đánh bạc, Q mang theo số tiền 110.000 đồng, sử dụng 110.000 đồng đánh bạc, khi bị lập biên bản sự việc Quí đã thua 40.000 đồng, bị tạm giữ 70.000 đồng;
  • - Đặng Minh H khi đến địa điểm đánh bạc, H mang theo số tiền 120.000 đồng, sử dụng 120.000 đồng đánh bạc, khi bị lập biên bản sự việc H đã thắng 50.000 đồng, bị tạm giữ 170.000 đồng;
  • - Lê Văn K khi đến địa điểm đánh bạc, K mang theo số tiền 520.000 đồng, sử dụng 520.000 đồng để đánh bạc, khi bị lập biên bản sự việc K đã thua 30.000 đồng, bị tạm giữ 490.000 đồng;
  • - Đỗ Thành H2 khi đến địa điểm đánh bạc, H2 mang theo số tiền 250.000 đồng, sử dụng 250.000 đồng để đánh bạc, khi bị lập biên bản sự việc H2 đã thua 10.000 đồng, bị tạm giữ 240.000 đồng.

Ngày 20/02/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M ra quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H, về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Trong quá trình điều tra các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

* Về tang vật và đồ vật thu giữ:

  • - 03 (ba) bộ bài tây 52 lá (01 bộ bài đã qua sử dụng, còn lại 02 bộ bài chưa qua sử dụng); 01 (một) cái bàn nhựa màu xanh, có chiều ngang 34 cm, dài: 64 cm, cao 50 cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu xanh, có chiều ngang 38 cm, chiều cao 69 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái ca nhựa màu trắng, miệng ca 12 cm, chiều cao 15 cm, đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M chứng minh đây là công cụ của các đối tượng dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
  • - Tiền Việt Nam 970.000 đồng thu trên người của Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh HĐỗ Thành H2. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M đã chứng minh đây là tiền dùng để đánh bạc nên tiếp tục tạm giữ chờ xử lý.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Vào ngày 28/12/2023 Q, K, HH2 tham gia đánh bạc có bỏ vào một cái ca mũ số tiền 30.000 đồng. Sau đó Q lấy số tiền trên đi mua nước uống, đây là tiền dùng đánh bạc nên trách nhiệm của Q phải nộp lại số tiền này. Hiện nay bị cáo Q đã nộp lại xong

Đối với đối tượng Đỗ Thành H2 hành vi chưa cấu thành tội phạm nên ngày 27/02/2024 Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng, đã nộp phạt xong ngày 05/3/2024.

Tại bản cáo trạng số 24/CT-VKS.HMT, ngày 30/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít truy tố các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H về tội “Đánh bạc”, theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Thít giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H phạm tội: “Đánh bạc”.

  • - Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q từ 04 tháng đến 06 tháng tù.
  • Phạt bổ sung bị cáo từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn K từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo K.
  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; đề nghị xử phạt bị cáo Đặng Minh H từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
  • Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo H.
  • - Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
  • + Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
  • + Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tây 52 lá (01 bộ bài đã qua sử dụng và 02 bộ bài chưa qua sử dụng); 01 (một) cái bàn nhựa màu xanh, có chiều ngang 34 cm, dài 64 cm, cao 50 cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu xanh, có chiều ngang 38 cm, chiều cao 69 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái ca nhựa màu trắng, miệng ca 12 cm, chiều cao 15 cm, đã qua sử dụng.
  • - Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  • + Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • + Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lê Văn K, Đặng Minh H, vì các bị cáo là người cao tuổi.

Các bị cáo thừa nhận mình có tội và không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H khai nhận: Ngày 28/12/2023 các bị cáo Q, K, H cùng với Đỗ Thành H2 thực hiện hành vi đánh bạc để ăn thua bằng tiền bằng hình thức đánh bài binh xập xám, mỗi ván bài được ăn thua bằng tiền là 5.000 đồng, người làm cái (chia bài) thì được ăn thua với 03 người còn lại và ngược lại người không làm cái thì ăn thua với người làm cái, mỗi người làm cái 03 (ba) ván bài theo chiều ngược kim đồng hồ, làm cái xoay vòng, nếu trong ván bài có ai bãi bài (tới trắng) thì ba người còn lại chung cho người bãi là 5.000 đồng và người bãi bỏ vào một cái ca mũ 5.000 đồng để trả tiền mua bài và mua nước uống, tổng số tiền các bị cáo Q, K, H cùng với Đỗ Thành H2 dùng để đánh bạc là 1.000.000 đồng. Xét thấy, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của đối tượng cùng tham gia đánh bạc và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Ngày 22/5/2023 các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H bị Công an xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền là 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã đóng phạt xong ngày 25/5/2023, tính đến thời điểm bị lập biên bản sự việc ngày 28/12/2023 khi các bị cáo đang tham gia đánh bạc thì chưa được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nên hành vi của các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H đã cấu thành tội “Đánh bạc”. Do đó, có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Hữu Q, Lê Văn K, Đặng Minh H phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhưng không có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm nên chỉ là đồng phạm giản đơn. Các bị cáo cùng giữ vai trò đồng phạm là người thực hành.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi do các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội không lớn, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng ở địa phương, chỉ vì ham lợi bất chính mà thực hiện hành vi đánh bạc ăn thua bằng tiền. Bản thân các bị cáo đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc chưa được xóa tiền sự, lẽ ra các bị cáo phải biết hành vi sai trái của mình để sửa đổi trở thành người công dân có ích cho xã hội nhưng các bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi đánh bạc, các bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là sai trái, vi phạm pháp luật nhưng vẫn quyết tâm tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện sự xem thường pháp luật, gây bất bình trong xã hội, làm mất trật tự ở địa phương, do đó cần xử phạt các bị cáo một mức hình phạt nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[4.1] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội ít nghiêm trọng; các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ; các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, các bị cáo có khả năng tự cải tạo. Do đó, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội cũng đủ để răn đe, giáo dục bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung:

  • - Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu Q 10.000.000 đồng.
  • - Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo Lê Văn K và bị cáo Đặng Minh H do các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, không có thu nhập không ổn định.

[6] Đối với Đỗ Thành H2 là người tham gia đánh bạc cùng với các bị cáo, do hành vi chưa cấu thành tội phạm nên ngày 27/02/2024 Công an huyện M đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là đúng quy định.

[7] Về vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
  • - Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) bộ bài tây 52 lá (01 bộ bài đã qua sử dụng và 02 bộ bài chưa qua sử dụng); 01 (một) cái bàn nhựa màu xanh, có chiều ngang 34 cm, dài 64 cm, cao 50 cm, đã qua sử dụng; 04 (bốn) cái ghế nhựa màu xanh, có chiều ngang 38 cm, chiều cao 69 cm, đã qua sử dụng; 01 (một) cái ca nhựa màu trắng, miệng ca 12 cm, chiều cao 15 cm, đã qua sử dụng.

[8] Xét, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.

[9] Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  • + Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • + Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lê Văn K, Đặng Minh H, vì các bị cáo là người cao tuổi.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    • - Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Q phạm tội “Đánh bạc”
    • - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Q 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện M, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    • - Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Hữu Q 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
  2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn K phạm tội “Đánh bạc”
    • - Xử phạt bị cáo Lê Văn K 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    • - Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Lê Văn K.
  3. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 58; khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    • - Tuyên bố bị cáo Đặng Minh H phạm tội “Đánh bạc”
    • - Xử phạt bị cáo Đặng Minh H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

    Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

    • - Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Đặng Minh H.
  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46; điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

    • - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: Tiền Việt Nam đồng: 1.000.000 đồng (Một triệu đồng)
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 03 (ba) bộ bài tây 52 lá (01 bộ bài đã qua sử dụng và 02 bộ bài chưa qua sử dụng).
      • + 01 (một) cái bàn nhựa màu xanh, có chiều ngang 34 cm, dài 64 cm, cao 50 cm, đã qua sử dụng.
      • + 04 (bốn) cái ghế nhựa màu xanh, có chiều ngang 38 cm, chiều cao 69 cm, đã qua sử dụng.
      • + 01 (một) cái ca nhựa màu trắng, miệng ca 12 cm, chiều cao 15 cm, đã qua sử dụng.

    (Các vật chứng trên hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít đang quản lý theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 01/4/2024 và số tiền trên đã được chuyển vào tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Thít theo Lệnh thanh toán ngày 01/4/2024 của Ngân hàng N1 – Chi nhánh huyện M, tỉnh Vĩnh Long).

  5. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    • - Buộc bị cáo Nguyễn Hữu Q phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
    • - Miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo Lê Văn K, Đặng Minh H.

    Trường hợp bản án, quyết định, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được qui định theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

  6. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là mười lăm ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Vĩnh Long;
  • - VKSND tỉnh Vĩnh Long;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Long;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh VL;
  • - VKSND huyện Mang Thít;
  • - Công an huyện Mang Thít;
  • - Chi cục THADS huyện Mang Thít;
  • - UBND xã Long Mỹ, huyện Mang Thít;
  • - UBND xã Thanh Đức, huyện Long Hồ;
  • - Các bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc Bích

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG về hình sự sơ thẩm về tội đánh bạc

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 07/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MANG THÍT, TỈNH VĨNH LONG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger