TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ – ST Ngày: 07/5/2024 V/v " Ly hôn". |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Lưu Thùy Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Thận
Ông Trần Đức Hoà
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Hùng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng: Bà Đàm Thị Thuỷ, chức vụ Kiểm sát viên.
Trong ngày 07 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước; xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý thụ lý số: 225/HNGĐ-ST, ngày 09 tháng 11 năm 2023; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử 09/2024/QÐST - HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2024; giữa các đương sự:
-Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị K; sinh năm 1976 ( có mặt)
-Bị đơn: anh Nguyễn Văn S, sinh năm 1972 ( vắng mặt)
Cùng cư trú tại: thôn B, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước.
TÓM TẮT NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 07/9/2023 quá trình thụ lý vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị K trình bày: Chị Nguyễn Thị K và anh Nguyễn Văn S tự nguyện chung sống từ năm 2000, đến năm 2006 mới tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước; trong thời gian chung sống không có hạnh phúc thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hoà hợp, không cùng quan điểm sống, kinh tế khó khăn, anh S thường xuyên uống rượu say về nhà chửi bới, có những lời lẽ xúc phạm đánh đập chị K, đập phá đồ đạc trong nhà, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã, xô sát, mất tình cảm và vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 liên tục đến nay. Hiện nay chị K thấy không còn tình cảm, mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị K được ly hôn với anh S.
Về con chung: Có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2000; cháu Nguyễn Đăng K1, sinh năm 2005; hiện nay các cháu đều đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
Bị đơn anh Nguyễn Văn S: Toà án đã tiến hành giao các văn bản tố tụng và giấy triệu tập cho anh S hợp lệ nhưng anh S không thực hiện, không chấp hành giấy triệu tập của toà án; không giao nộp bất kỳ tài liệu, chứng cứ gì.
Về tài liệu, chứng cứ: Nguyên đơn nộp tài liệu, chứng cứ như trong hồ sơ vụ án; ngoài ra không giao nộp gì thêm. Bị đơn không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm về vụ án: Về tố tụng Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Về nội dung vụ án căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được ly hôn của nguyên đơn; về con chung các cháu Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2000; cháu Nguyễn Đăng K1, sinh năm 2005; hiện nay các cháu đều đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng. Về tài sản chung, nợ chung không yêu cầu toà án giải quyết nên không đặt ra.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ vào lời khai của các đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của chị K và giấy chứng nhận đăng ký kết hôn, xác định được chị K và anh S tự nguyện kết hôn năm 2006 tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước phù hợp với giấy chứng nhận kết hôn đã được chị K giao nộp hợp pháp tại Tòa án. Vì vậy, quan hệ hôn nhân giữa chị K và anh S là hợp pháp.
Về mâu thuẫn gia đình: Theo lời khai của chị K cho rằng giữa chị và anh S có xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình, lối sống, quan điểm sống không hợp, kinh tế khó khăn từ đó vợ chồng xảy ra cãi vã, xô sát nhau, anh S thường đi uống rượu say sỉn về nhà chửi bới xác phạm vợ con, thỉnh thoảng còn đập phá đồ đạc trong nhà, không còn tình cảm nên vợ chồng đã ly thân từ năm 2023 kéo dài đến nay. Qua lời khai của người làm chứng xác định giữa chị K và anh S là có mâu thuẫn thường xuyên cãi vã, xô sát, sống ly thân. Như vậy, có căn cứ xác định giữa anh S và chị K là có mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.
[2] Về con chung: Căn cứ vào lời khai của chị K và giấy khai sinh do chị K cung cấp, xác định được giữa anh S và chị K có 02 con chung là các cháu Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2000; cháu Nguyễn Đăng K1, sinh năm 2005; hiện nay các cháu đều đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
[3] Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
[5] Về án phí: Theo quy định tại khoản 2, khoản 4 Điều 131 của Bộ luật Tố tụng dân sự đương sự phải chịu tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo luật định.
[6] Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo luật định.
Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 51; Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; khoản 4 Điều 147; Điều 266 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH16 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án ngày 30/12/2016.
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị K được ly hôn với anh Nguyễn Văn S. Giấy chứng nhận kết hôn số 76/2006 ngày 28/7/2006 của Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước không còn hiệu lực pháp luật kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.
[2] Về con chung: các cháu Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm 2000; cháu Nguyễn Đăng K1, sinh năm 2005; hiện nay các cháu đều đã thành niên nên không đặt ra vấn đề nuôi dưỡng, cấp dưỡng.
[3] Về tài sản chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
[4] Về nợ chung: không yêu cầu toà án giải quyết.
[5] Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị K nộp 300.000đ tiền án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà chị K đã nộp trước là 300.000₫, theo biên lai thu tiền số 0001346, ngày 09/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bù Đăng.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án, người phải thi hành án không tự giác thi hành, thì phải chịu lãi suất theo mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 BLDS tương ứng với thời gian và số tiền chậm thực hiện.
[6] Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo
bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA LƯU THÙY LINH |
Bản án số 36/2024/HNGĐ – ST ngày 07/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
