Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN ĐỒ SƠN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày 06-9-2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Xuân Vinh

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Mai Hương

Bà Đỗ Thị Viện

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Bình - Thư ký Toà án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Vũ Duy Ninh - Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 9 năm 2024, tại điểm cầu Trung tâm: Trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: Ngõ B đường N, tổ dân phố số I, phường N, quận Đ, thành phố Hải Phòng và điểm cầu thành phần: Trại tạm giam - Công an thành phố H; địa chỉ: Xã C, huyện A, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 35/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

ĐOÀN ĐẮC DŨNG, sinh ngày 11 tháng 7 năm 1989 tại Hải Phòng; nơi cư trú: Thôn K, xã T, huyện K, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Đắc Đ và bà Đỗ Thị C. Bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự, nhân thân: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/4/2024 đến ngày 26/4/2024 chuyển tạm giam; có mặt.

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Phúc K; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đoàn Đắc D là người nghiện chất ma túy từ năm 2022 đến nay. Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 24/4/2024, D điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 16P2-2809 đến khu vực đường T, L, Hải Phòng mua ma túy đá sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, D đi vào đường tàu mua của một người nam thanh niên không quen biết 300.000 đồng ma tuý đá. D cầm túi ma tuý vừa mua được ở tay trái rồi điều khiển xe mô tô đi về quận Đ. Khoảng 19 giờ 15 phút cùng ngày, khi đến đường M thuộc tổ dân phố D, phường M, quận Đ, Hải Phòng, D bị Công an phường M yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Do hoảng sợ, D đã vất túi ma tuý đá xuống mương nước. Công an phường M đã thu giữ được một túi nilon dạng túi zip, kích thước (02x02) cm, bên trong chứa tinh thể màu trắng (D khai nhận đó là ma túy); một chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám bạc; chiếc xe mô tô Biển kiểm soát 16P2-2809.

Kết luận giám định số 509 ngày 26/4/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H kết luận: “Tinh thể màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 0,26 gam, loại: Methamphetamine”.

Vật chứng: 01 phong bì niêm phong chứa chất ma túy còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám bạc chuyển Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn quản lý. Xe mô tô Biển kiểm soát 16P2-2809 đã được Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Cáo trạng số 33/CT-VKS ngày 06/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng đã truy tố Đoàn Đắc D về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật như bản cáo trạng đã nêu; sau khi đã phân tích nội dung vụ án, đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đoàn Đắc D với mức án từ 18 (mười tám) đến 21 (hai mươi mốt) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 25/4/2024.
  • Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự vì bị cáo không có thu nhập ổn định.
  • - Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
    • + Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 509MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định.
    • + Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám bạc, nhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
  • - Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho D tại khu vực đường T, quận L, do không xác định được lai lịch, địa chỉ, nên không có cơ sở để điều tra.

- Về án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố là đúng. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật và mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để có thể sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Đ, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[1.1] Đối với người làm chứng đã được triệu tập hợp lệ, nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Tuy nhiên, đã có lời khai đầy đủ, phù hợp với lời khai của bị cáo; các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Xác định, sự vắng mặt đó không làm ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người làm chứng như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa theo quy định tại Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Về tội danh và khung hình phạt:

[2] Lời khai của bị cáo D trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Khoảng 19 giờ 15 phút ngày 24/4/2024, tại đường M thuộc tổ dân phố D, phường M, quận Đ, thành phố Hải Phòng, Đoàn Đắc D có hành vi cất giấu trái phép 0,26 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện, bắt quả tang. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo D đã đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[3] Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn đã truy tố bị cáo như bản cáo trạng là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[6] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma tuý, là nguyên nhân và làm phát sinh các loại tệ nạn và tội phạm khác, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, dịch bệnh đối với con người. Nên cần xử bị cáo một mức án nghiêm theo quy định của pháp luật mới đủ tác dụng để răn đe, cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • [8.1] Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong số 509MT/PC09 chứa số ma túy còn lại sau giám định.
  • [8.2] Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám bạc do không liên quan đến tội phạm.
  • [8.3] Chiếc xe mô tô Biển kiểm sát 16P2-2809 cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xét.

[9] Về vấn đề khác: Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo, do không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể không có căn cứ để xử lý, Hội đồng xét xử không xét.

[10] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Đoàn Đắc D phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Đoàn Đắc D 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 25/4/2024.

- Về hình phạt bổ sung: Không phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu huỷ lượng ma tuý còn lại sau giám định thu được của bị cáo D, được niêm phong trong 01 phong bì có dấu niêm phong số 509MT/PC09 của Phòng K1, Công an thành phố H.

Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s Plus màu xám bạc.

(Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/8/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Đ và Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo Đoàn Đắc D phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Đồ Sơn;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Đồ Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Đồ Sơn;
  • - Chi cục THADS quận Đồ Sơn;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an TP Hải Phòng (PC10);
  • - UBND xã Tân Phong, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Xuân Vinh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đoàn Đắc D - Tàng trữ TPCMT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger