TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA TỈNH QUẢNG BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS-ST Ngày: 06 - 9 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích Thủy
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Thiên Lương và bà Hoàng Thị Thanh
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Đinh Kiên Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuyên Hóa tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 35/2024/TLST - HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 33/2024/QĐXXST – HS ngày 21/8/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H - Tên gọi khác: Không; sinh ngày: 26/12/1986 tại huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi cư trú: thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Bình; Nơi tạm trú: thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 05/12; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1950 và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1951; có chồng là Phan Văn H1 và hai người con; tiền án: có 01 tiền án: ngày 25/10/2022 Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm” bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 năm tù tại Bản án số 105/2022/HSPT ngày 25/10/2022. Bị cáo đang được hoãn chấp hành án vì đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, đến ngày 23/5/2024 tiếp tục có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/8/2020 có hành vi cung cấp địa điểm cho hoạt động mua, bán dâm tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0039981/QĐ-XPHC ngày 26/8/2020. Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình từ ngày 23/5/2024 cho đến nay, bị cáo có mặt theo lệnh trích xuất.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thị H là một người nghiện ma túy, vào khoảng đầu tháng 4 năm 2024, H một mình đi ra thành phố V, tỉnh Nghệ An để chơi. Tại đây, H gặp một người phụ nữ không rõ địa chỉ cụ thể, chỉ biết tên là T1. Qua trò chuyện, H nhận thấy T1 có biểu hiện sử dụng ma túy giống mình nên đã nhờ T1 mua giúp ma túy loại đá về sử dụng. T1 đồng ý, H đưa số tiền 1.700.000 đồng cho T1 và ngồi đợi. Một lúc sau, T1 quay lại đưa cho H một gói nilon, bên trong chứa 16 ống nhựa, trong mỗi ống nhựa có chứa chất bột màu trắng là ma túy, H cất ma túy vào người rồi quay về nhà. Ngày 23/5/2024, H thuê phòng số 105 nhà nghỉ “Trung Chính” ở thôn T, xã T, huyện T để ngủ. Khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi ngủ dậy, H lấy 02 ống nhựa chứa ma túy ra để sử dụng, số còn lại cất vào trong áo ngực bên phải. Khi đang chuẩn bị sử dụng ma túy thì bị Công an huyện T phát hiện và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy, trong đó có 02 ống nhựa để dưới nền nhà và 14 ống nhựa trong áo ngực bên phải H đang mặc trên người, cùng các loại tang vật khác. Nguyễn Thị H khai nhận số chất bột màu trắng nói trên là ma túy loại đá mà H tàng trữ nhằm mục đích sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số: 569/KL-KTHS ngày 30/5/2024 của Phòng KTHS Công an tỉnh Q, kết luận:
- Chất bột màu trắng chứa trong 14 ống nhựa trong suốt, thu giữ trên người Nguyễn Thị H là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 2,365 gam.
- Chất bột màu trắng chứa trong 02 ống nhựa trong suốt, thu giữ trên nền phòng nghỉ là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,334 gam.
Tổng khối lượng chất ma túy: 2,699 gam Methamphetamine. Methamphetamine nằm trong danh mục các chất ma túy, Số thứ tự: 247, Danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ – CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.
* Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã tạm giữ:
- 14 ống nhựa trong suốt, thu giữ trên người của Nguyễn Thị H, bên trong chứa chất bột màu trắng là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 2,365 gam, sau giám định còn lại là 2,167 gam;
- 02 ống nhựa trong suốt, thu giữ tại nền phòng nghỉ, bên trong chứa chất bột màu trắng là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 0,334 gam, sau giám định còn lại là 0,258 gam;
Số ma túy còn lại sau giám định cùng vỏ bao gói được đựng trong 01 phong bì thư, ghi số “569/KL-KTHS”, đã được niêm phong.
- 01 áo ngực màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng.
3
Bản cáo trạng số: 35/CT – VKSTH – HS ngày 14/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố Nguyễn Thị H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Nguyễn Thị H từ 24 đến 30 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 06 năm tù của Bản án số 105/2022/HS-PT ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành. Thời gian tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 23/5/2024.
Vật chứng vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy:
- + 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi số “569/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng có băng dính trong suốt, bên trong có: 2,167 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1” và 0,258 gam gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”; vỏ bao gói.
- + 01 áo ngực màu đen, đã qua sử dụng.
- Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng.
Án phí: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).
Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Thị H tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên toà hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới. Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình; không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
4
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Điều tra viên. Hành vi tố tụng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền. Quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị H: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo biết rõ việc tàng trữ ma tuý là trái pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do lối sống buông thả, thiếu lành mạnh của bản thân, thích ăn chơi đua đòi nên mặc dù là phụ nữ có con nhỏ bị cáo vẫn sử dụng ma túy và sa vào nghiện ngập ma túy. Do đó, khoảng đầu tháng 4 năm 2024 bị cáo đến thành phố V, tỉnh Nghệ An gặp một người phụ nữ tên T1, qua tiếp xúc có biểu hiện nghiện ma túy giống mình nên bị cáo đã nhờ T1 mua ma túy về để sử dụng. Bị cáo đưa cho T1 số tiền 1.700.000 đồng và mua được 16 ống nhựa, trong mỗi ống nhựa có chứa ma túy dạng chất bột màu trắng, sau đó bị cáo cất ma túy rồi đưa về nhà. Đến ngày 23/5/2024, bị cáo đến thuê phòng số 105 nhà nghỉ “Trung Chính” ở thôn T, xã T để ngủ, khoảng 10 giờ 15 phút cùng ngày, sau khi ngủ dậy bị cáo lấy hai ống nhựa chứa ma túy ra để sử dụng. Khi đang chuẩn bị sử dụng thì bị Công an huyện T kiểm tra phát hiện và bắt quả tang. Hành vi của bị cáo là tàng trữ trái phép chất ma tuý, số ma tuý mà Nguyễn Thị H tàng trữ có tổng khối lượng là 2,699 gam Methamphetamine.
Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội đó phù hợp với lời khai của những người chứng kiến trong hồ sơ vụ án và các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, tài liệu về thời gian, địa điểm, khối lượng chất ma tuý mà bị cáo đã tàng trữ, ý kiến của Kiểm sát viên. Do đó, có đủ cơ sở khẳng định bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Thị H có một tiền án: Ngày 25/10/2022 Nguyễn Thị H phạm tội “Chứa mại dâm” bị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xử phạt 06 năm tù tại Bản án số 105/2022/HSPT ngày 25/10/2022. Bị cáo đang được hoãn chấp hành án vì đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, đến ngày 23/5/2024 tiếp tục có hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Vì vậy, bị cáo bị áp dụng 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
[5] Về hình phạt: Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma tuý, làm ảnh hưởng đến tình
5
hình an ninh, trật tự tại địa bàn, gây tệ nạn cho xã hội và tạo sự hoang mang trong quần chúng nhân dân. Hành vi này là nguy hiểm cho xã hội cần xử phạt nghiêm minh để giáo dục bị cáo và răn đe chung.
Xét nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/8/2020 có hành vi cung cấp địa điểm cho hoạt động mua, bán dâm tại thôn T, xã S, huyện T, tỉnh Quảng Bình bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0039981/QĐ-XPHC ngày 26/8/2020. Bị cáo có 01 tiền án, đang trong thời gian được hoãn thi hành án vì nuôi con nhỏ lại tiếp tục phạm tội nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng là tái phạm. Bản thân bị cáo đã bị pháp luật xử phạt nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học rèn luyện mình mà tiếp tục phạm tội nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là cần thiết nhằm cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội. Tuy nhiên, quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo phù hợp với chính sách nhân đạo của Nhà nước. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo là phù hợp. Áp dụng khoản 1 Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt 06 năm tù của Bản án số 105/2022/HS-PT ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thành hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành.
[6] Về xử lý vật chứng: Cần dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi số “569/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng có băng dính trong suốt, bên trong có:
- + 2,167 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”;
- + 0,258 gam gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”
- + vỏ bao gói.
- 01 áo ngực màu đen, đã qua sử dụng.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng đã thu giữ của bị cáo quá trình điều tra đã xác định đây là tài sản của bị cáo, không sử dụng vào việc phạm tội nên cần áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H.
[7] Liên quan trong vụ án: Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Thị H khai nhận vào ngày 23/5/2024 đã nhờ một người phụ nữ tên T1, ở thành phố V, tỉnh Nghệ An, không biết địa chỉ cụ thể ở đâu mua giúp. Quá trình điều tra không đủ tài liệu để xác
6
minh, làm rõ danh tính nên không có căn cứ để xử lý đối với người phụ nữ này. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[8] Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ Luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
- - Về hình phạt: Xử phạt Nguyễn Thị H 24 (hai mươi tư) tháng tù.
- Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm tù của Bản án số 105/2022/HS-PT ngày 25/10/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 08 (tám) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ bắt tạm giam (ngày 23/5/2024).
Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 (bốn mươi lăm) ngày theo Quyết định tạm giam của Hội đồng xét xử để đảm bảo thi hành án.
2. Vật chứng vụ án:
- * Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015 tịch thu tiêu hủy:
- 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi số “569/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng có băng dính trong suốt, bên trong có:
- + 2,167 gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A1, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A1”;
- + 0,258 gam gam ma túy loại Methamphetamine còn lại sau giám định của mẫu ký hiệu A2, chứa trong túi nilon trong suốt, ngoài ghi nội dung “A2”
- + vỏ bao gói.
- 01 áo ngực màu đen, đã qua sử dụng.
- 01 phong bì thư dán kín, trên có ghi số “569/KL-KTHS”, niêm phong bằng các chữ ký của những người tham gia niêm phong, hình dấu của Phòng K Công an tỉnh Q, ngoài cùng có băng dính trong suốt, bên trong có:
- * Áp dụng điểm a, b khoản 3 Điều 106 BLTTHS trả lại cho bị cáo Nguyễn Thị H: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu trắng, đã qua sử dụng.
Toàn bộ số vật chứng này hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình theo biên bản giao nhận
7
vật chứng ngày 20 tháng 8 năm 2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện T, tỉnh Quảng Bình và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình.
3. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo. Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 06/9/2024).
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Đoàn Thị Bích Thủy |
HỘI THẨM NHÂN DÂN
Thái Thiên Lương | Hoàng Thị Thanh |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 06/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (vụ án hình sự)
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUYÊN HÓA, TỈNH QUẢNG BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án Nguyễn Thị H; can tội tàng trữ trái phép chất ma túy
