|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HS -ST
Ngày: 06 - 05 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trung Thành
- - Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Minh Nguyệt
- Ông Đào Huy Dương
- - Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Bích Loan, Thẩm tra viên Toà án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hiếu - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 26/2024/HSST ngày 26 tháng 03 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HS ngày 04/04/2024; Quyết định hoãn phiên toà số 04/2024/HSST- QĐ ngày 19/04/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1990;
ĐKHKTT: Thôn G, xã T, huyện B, Thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa lớp 12/12. Con ông: Nguyễn Văn H; Con bà: Nguyễn Thị T; Chồng Nguyễn Tiến H1; Có 02 con, lớn sinh năm 2010, nhỏ sinh năm 2020.
Tiền án: Không; tiền sự: Không
Bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến ngày 18/01/2024, được áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên toà.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- + Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1997; Địa chỉ: Thôn C, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1998; Địa chỉ: Thôn C, xã S, huyện P, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- + Chị Nguyễn Nhật L, sinh năm 1998; Địa chỉ: Ngõ Đ, phố B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; vắng mặt.
- + Anh Nguyễn Minh H2, sinh năm 1993, trú tại Thôn G, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Qua mối quan hệ ngoài xã hội anh Nguyễn Văn T1, sinh năm 1997, trú tại: Thôn C, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội, sử dụng tài khoản zalo là “H3 cô đơn” và anh Nguyễn Ngọc N, sinh năm 1998, trú tại: Thôn C, xã S, huyện P, thành phố Hà Nội, sử dụng tài khoản Zalo “Anh Trai Cô Đơn” kết bạn với với tài khoản zalo “Phương A” của Nguyễn Thị Phương A, sinh năm 1990, trú tại: Thôn G, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội.
Sáng ngày 09/01/2024, Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Ngọc N đi uống rượu cùng nhau, đến khoảng 10 giờ 00 phút thì T1 nhắn tin qua nick Zalo của Phương A và rủ Phương A xuống Thị xã S để uống rượu, nhưng do đang bận đi làm nên Phương A từ chối. Sau đó, anh T1 nhắn tin lại cho Phương A nói “tí đi uống rượu xong thì mình gặp nhau tâm sự”, Phương A hiểu ý của T1 là muốn mua dâm Phương A nên đồng ý. Sau đó, T1 và Phương A trao đổi và thống nhất giá bán dâm của Phương A là 1.500.000 đồng. Cùng lúc, N cũng nhắn tin cho Phương A nhờ Phương A giới thiệu bạn để mua dâm, qua tin nhắn Phương A đã gửi ảnh của Nguyễn Nhật L, sinh năm 1998, trú tại: 8 ngõ Đ, phố B, phường T, quận H, thành phố Hà Nội, là người ở cùng khu trọ với Phương A để bán dâm cho N, N đồng ý và thống nhất giá mua bán dâm của L là 1.500.000₫ Sau đó, N chuyển số tiền 1.500.000đ vào tài khoản ngân hàng M của Phương A để mua dâm L và hứa hẹn khi gặp Phương A sẽ đưa tiền công giới thiệu người bán dâm cho Phương A. Cả ba người thống nhất khi nào T1 và N uống rượu xong sẽ gặp nhau tại nhà nghỉ M1 ở số D Tổ A X, Thị xã S.
Sau khi nhận tiền thành công, Phương A gọi điện, nhắn tin qua Z cho L nói “tí đi nhà nghỉ ngủ với bạn chị, về chị đưa tiền cho em là 1.000.000₫” ý là Phương A bảo L đi bán dâm cho N và sẽ trả cho L 1.000.000đ, còn lại 500.000 đồng thì Phương A sẽ giữ lại để hưởng lợi.
Theo hẹn, khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Phương A điều khiển xe máy chở L cùng đến nhà nghỉ M1, Phương A thuê 02 phòng: 202 và 303, đồng thời lấy 02 giỏ nhựa bên trong có sẵn nước uống và bao cao su. Phương A đưa cho L 01 giỏ và bảo L lên phòng 202 đợi N đến để bán dâm cho N, còn Phương A lên phòng 303 đợi T1 đến để bán dâm cho T1. Sau đó, Phương A nhắn tin báo số phòng 202, 303 cho T1 và N biết. Khoảng 15 phút sau, N và T1 đến nhà nghỉ M1, N lên phòng 303 đưa cho Phương A số tiền 300.000 đồng tiền công môi giới L bán dâm cho N. Sau đó, N đi xuống phòng 202 để quan hệ tình dục với L. T1 đi lên phòng 303 gặp Phương A rồi cả hai cùng quan hệ tình dục. Đến khoảng 14 giờ 00 phút cùng ngày, Công an thị xã S nhận được tin báo của chủ nhà nghỉ M1, vào kiểm tra phát hiện Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Thị Phương A, Nguyễn Ngọc N và Nguyễn Nhật L đang quan hệ tình dục mua bán dâm. Tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang lúc 15 giờ 20 phút cùng ngày.
Vật chứng thu giữ gồm:
Tại phòng 202:
- - 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01 vỏ bao cao su;
- - Thu của Nguyễn Ngọc N: 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, vỏ màu đen, số IMEI1: 353279112721074, số IMEI2: 353280112721072, lắp 01 sim và điện thoại đã qua sử dụng.
- - Thu của Nguyễn Nhật L: 01chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro, vỏ màu đen, số IMEI1: 358218092005715, số IMEI2: 358219092005713, lắp 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng.
Tại phòng 303
- - 01 bao cao su đã qua sử dụng; 01vỏ bao cao su;
- - Thu của Nguyễn Thị Phương A: Số tiền 300.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh, số IMEI1: 357845197878926, số IMEI2: 357845197878934, lắp 02 sim, điện thoại đã qua sử dụng.
- - Thu của Nguyễn Văn T1: Số tiền 1.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, vỏ màu vàng đồng, số IMEI1: 356209066149292101, số IMEI2: 356210066149290101, lắp 01 sim, điện thoại đã qua sử dụng.
Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Thị Phương A: 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, vỏ màu đen-đỏ, BKS: 29Y7-019.36, số máy: JC43E6137390, số khung: 3233BY210211, đã qua sử dụng.
Hành vi mua dâm của Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Ngọc N đã vi phạm khoản 1 Điều 24 Nghị định 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, ngày 16/01/2024 Công an thị xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn T1 và Nguyễn Ngọc N về hành vi mua dâm, mức phạt: 1.000.000 đồng/1 người.
Nguyễn Thị Phương A và Nguyễn Nhật L đã vi phạm khoản 1 Điều 25 Nghị định 144/2021/NĐ - CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ, ngày 16/1/2024 Công an thị xã S đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Thị Phương A và Nguyễn Nhật L về hành vi bán dâm, mức phạt: 300.000 đồng/1 người.
Đối với bà Ninh Thị N1, sinh năm 1986 là chủ quản lý nhà nghỉ M1, địa chỉ: 6 đường Đ, phường X, thị xã S. Ngày 09/01/2024, trong khi quản lý nhà nghỉ, bà N1 thấy Nguyễn Thị Phương A và Nguyễn Nhật L thuê phòng 202 và phòng 303 rồi lên phòng trước, thấy có nghi ngờ hoạt động mại dâm nên bà N1 đã trình báo sự việc đến Cơ quan Công an nên Công an thị xã S đã kiểm tra, bắt quả tang việc hoạt động mại dâm như đã nêu trên. Do vậy Cơ quan CSĐT Công an thị xã S không đặt vấn đề xử lý đối với bà N1.
Đối với 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, vỏ màu đen-đỏ, BKS: 29Y7-019.36, số máy: JC43E6137390, số khung: 3233BY210211, đã qua sử dụng, tra cứu không phải xe vật chứng, xác định đây là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Minh H2, sinh năm 1993, trú tại Thôn G, xã T, huyện B, thành phố Hà Nội là em trai ruột của Nguyễn Thị Phương A.
Ngày 22/01/2024, Nguyễn Thị Phương A đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 1.500.000₫ do Nguyễn Ngọc N chuyển khoản thanh toán tiền mua dâm Nguyễn Nhật L
Bản cáo trạng số 22/CT- VKS ngày 21 tháng 03 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố Nguyễn Thị Phương A về tội “Môi giới mại dâm” theo khoản 1 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị Phương A đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi Môi giới mại dâm mà bị cáo đã thực hiện. Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội, tại phiên tòa trình bày luận tội giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Phương A về tội “Môi giới mại dâm” và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Phương A từ 12 đến 15 tháng tù. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy vật chứng gồm: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su đã bị xé rách. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.300.000đ (ba triệu ba trăm nghìn đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, vỏ màu vàng đồng. Trả lại cho anh Nguyễn Minh H2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX, vỏ màu đen-đỏ, BKS: 29Y7-019.36, số máy: JC43E6137390, số khung: 3233BY210211.Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Phương A không có ý kiến và không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
[2] Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo và lời khai của những người có liên quan tại Cơ quan điều tra, phù hợp với vật chứng đã thu giữ, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Ngày 09/01/2024, Nguyễn Thị Phương A đã có hành vi làm trung gian dẫn dắt Nguyễn Nhật L và Nguyễn Ngọc N thực hiện việc mua bán dâm với nhau tại phòng số 202 nhà nghỉ M1 tại địa chỉ số F đường Đ, phường X, thị xã S, thành phố Hà Nội do bà Ninh Thị N1, sinh năm 1986 là chủ quản lý nhà nghỉ M1. Bản thân Nguyễn Thị Phương A cũng thực hiện hành vi bán dâm cho Nguyễn Văn T1 tại nhà nghỉ này để thu lời bất chính. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Môi giới mại dâm, theo quy định định tại khoản 1, Điều 328 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Sơn Tây, Thành phố Hà Nội truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi lẽ mại dâm là tệ nạn xã hội, trái với đạo đức, thuần phong mỹ tục và nếp sống văn minh, làm ảnh hưởng đến nhân cách, sức khoẻ con người và ảnh hưởng đến hạnh phúc của nhiều gia đình. Mặt khác, hành vi của bị cáo còn gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo cũng nhận thức được tệ nạn mại dâm là một trong những nguyên nhân làm lây truyền các bệnh xã hội, Do đó, Nhà nước và nhân dân đang ra sức tuyên truyền và đề ra các biện pháp để phòng chống tệ nạn này, nhưng bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với hành vi của bị cáo, để cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc Mường, gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bản thân bị cáo đang nuôi con nhỏ, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự
Xét tính chất của vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo là người lao động tự do, không có thu nhập ổn định nên không có khả năng và điều kiện về kinh tế để thi hành án, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền theo quy định tại khoản 4 Điều 328 của Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su đã bị xé rách. Xét đây là vật chứng liên quan đến quan đến việc mua bán dâm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh, số IMEI1: 357845197878926, số IMEI2: 357845197878934 thu của Nguyễn Thị Phương A; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro, vỏ màu đen số IMEI1: 358218092005715, số IMEI2: 358219092005713 thu của Nguyễn Nhật L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, vỏ màu vàng đồng số IMEI1: 356209066149292, số IMEI2: 356210066149290 thu của Nguyễn Văn T1; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, vỏ màu đen số IMEI1: 353279112721074, số IMEI2: 353280112721072 thu của Nguyễn Ngọc N.
Xét thấy, những chiếc điện thoại này có liên quan đến hành vi phạm tội của Nguyễn Thị Phương A nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền 300.000₫ thu giữ của Nguyễn Thị Phương A và 1.500.000₫ mà bị cáo tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra. Quá trình điều tra xác định số tiền này do N chuyển cho bị cáo trả tiền mua dâm cho Nguyễn Nhật L và trả tiền công cho bị cáo trong việc môi giới bán dâm nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với số tiền 1.500.000đ thu giữ của Nguyễn Văn T1 xác định là tiền T1 trả tiền mua dâm cho Nguyễn Thị Phương A nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
Đối với 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ; BKS: 29Y7- 019.36 thu giữ của Nguyễn Thị Phương A. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của anh Nguyễn Minh H2 là em trai ruột của bị cáo Nguyễn Thị Phương A. Việc bị cáo sử dụng xe đi đâu làm gì, anh H2 không biết nên cần trả lại cho anh Nguyễn Minh H2.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 328, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Thị Phương A 09 (Chín) tháng tù, về tội “Môi giới mại dâm”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày thi hành án. Bị cáo được trừ thời gian bị tạm giữ từ ngày 09/01/2024 đến 18/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su đã bị xé rách. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 3.300.000đ (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) và 04 chiếc điện thoại di động gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel, vỏ màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J2 Pro, vỏ màu đen; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A7, vỏ màu vàng đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11, vỏ màu đen.
Trả lại cho anh Nguyễn Minh H2 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen đỏ; BKS: 29Y7-019.36 (Vật chứng do Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/03/2024 giữa Công an thị xã S và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Sơn Tây, thành phố Hà Nội. Số tiền được nộp vào tài khoản theo Giấy nộp tiền vào tài khoản ngày 25/03/2024 của Kho bạc Nhà nước thị xã S, thành phố Hà Nội).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm a, khoản 1 Điều 23 Nghị quy ết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Thị Phương A phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyền kháng cáo của bị cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩn. Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN TÒA |
THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN Đặng Trung T2 |
Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội môi giới mại dâm
- Số bản án: 36/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Môi giới mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ SƠN TÂY, TP HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bc A phạm tội môi giới mại dâm
