|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày 05-7-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Đức Bình;
Ông Nguyễn Hữu Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Ngọc Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 14/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 02 năm 2024 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Tạ Thị Thảo M, sinh năm 1995; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Bị đơn: Anh Phạm Tiến L, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn S, xã T, huyện T, Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Tạ Thị Thảo M trình bày: Chị và anh Phạm Tiến L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 23-6-2016. Vợ chồng sống hoà thuận được khoảng 08 năm thì nảy sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, cuộc sống chung không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau. Gia đình đã tiến hành hoà giải nhưng không thành. Chị M xác định không còn tình cảm với anh L nên yêu cầu Toà án giải quyết cho chị ly hôn anh L. Anh chị có 01 con chung là Phạm Bảo K, sinh ngày 09-02-2022. Khi ly hôn, chị M nhận nuôi con, không yêu cầu Toà án giải quyết về việc cấp dưỡng cho con. Chị hiện đang làm lao động tự do, thu nhập ổn định, trung bình khoảng 15 triệu đồng/tháng, đảm bảo việc nuôi con. Về tài sản chung, anh chị tự thoả thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng theo quy định pháp luật cho bị đơn nhưng anh Phạm Tiến L không giao nộp văn bản trình bày quan điểm của mình cho Toà án. Xác minh tại gia đình anh L, mẹ đẻ anh L là bà Phạm Thị D cho biết: Anh L và chị M tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2016 và chung sống với vợ chồng bà tại thôn S, xã T, huyện T. Khoảng giữa năm 2023, anh L vào miền N làm việc và có các mối quan hệ bạn bè làm chị M nghi ngờ anh L không chung thuỷ, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, cãi nhau. Gia đình bà đã phân tích, thuyết phục, hoà giải để anh chị đoàn tụ; bản thân anh L cũng đã xin lỗi chị M nhưng chị không đồng ý, nhất quyết muốn ly hôn anh L. Anh chị có 01 con chung là Phạm Bảo K, sinh ngày 09-02-2022, đang sống với vợ chồng bà. Cả anh L và chị M đều làm lao động tự do. Theo bà D được biết, quan điểm của anh L là mong muốn vợ chồng đoàn tụ để cùng nuôi dạy con; nếu chị M vẫn muốn ly hôn phải ký giấy để anh nuôi con, không liên quan đến con nữa thì anh mới đến Toà án làm việc. Quan điểm của gia đình bà là mong muốn anh chị đoàn tụ, trường hợp chị M nhất quyết muốn ly hôn, đề nghị Toà án giao cháu Phạm Bảo K cho anh L và gia đình bà nuôi dưỡng.
Xác minh tại địa phương thể hiện: Anh Phạm Tiến L và chị Tạ Thị Thảo M tự nguyện kết hôn với nhau từ năm 2016 theo quy định của pháp luật. Trong thời gian chung sống, anh L thường đi làm xa, chị M nghi ngờ anh không chung thuỷ nên vợ chồng mâu thuẫn. Từ khoảng tháng 4-2024 đến nay, chị M về sống với bố mẹ đẻ tại tỉnh Quảng Ninh, vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi. Anh chị có 01 con chung là Phạm Bảo K, hiện đang sống cùng bố mẹ đẻ anh L.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của mình, không có mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, phiên toà theo thông báo của Tòa án, vi phạm khoản 15, khoản 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án đã thụ lý đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ pháp luật của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
Về quan hệ hôn nhân, mâu thuẫn tình cảm giữa chị M và anh L đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, vi phạm Điều 19, Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, điểm a, b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị M được ly hôn anh L. Giao con Phạm Bảo K, sinh ngày 09-02-2022 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Không xem xét, giải quyết về cấp dưỡng cho con và tài sản chung do đương sự không yêu cầu. Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm; chị M, anh L có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
2
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- [1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Chị Tạ Thị Thảo M khởi kiện về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Phạm Tiến L tại Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng. Bị đơn là anh L cư trú tại xã T, huyện T nên căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
- [2] Về việc vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn vắng mặt lần thứ 2, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, mặc dù đã được tống đạt hợp lệ. Căn cứ vào khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị M và anh L.
- - Về quan hệ hôn nhân:
[3] Chị M và anh L kết hôn trên cơ sở tự nguyện và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng ngày 23-6-2016 nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Quá trình giải quyết vụ án, anh L không giao nộp văn bản trình bày quan điểm cho Toà án, không tham gia phiên họp hoà giải và phiên toà. Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn và kết quả xác minh, xét thấy: Chị M và anh L đã không còn yêu thương, tin tưởng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau; không cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc gia đình; không chung sống với nhau; vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng được quy định tại Điều 19 và Điều 21 của Luật Hôn nhân và gia đình. Như vậy, mâu thuẫn giữa chị M và anh L đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị M được ly hôn anh L.
[5] Về con chung: Anh chị có 01 con chung là Phạm Bảo K, sinh ngày 09-02-2022. Xét thấy, việc nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chung hai bên cha mẹ đều có tình cảm, quyền và trách nhiệm như nhau. Tuy nhiên, con chung của anh chị dưới 36 tháng tuổi; chị M đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; anh L không có văn bản trình bày quan điểm về việc nuôi con. Để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con cần căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình giao con Phạm Bảo K cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con kể từ ngày 05-7-2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về nghĩa vụ cấp dưỡng cho con, chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết; xét thấy quyền lợi của con vẫn được đảm bảo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [7] Về án phí: Chị M là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- [8] Về quyền kháng cáo: Chị M và anh L có quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Tạ Thị Thảo M được ly hôn anh Phạm Tiến L.
- Về con chung: Giao con Phạm Bảo K, sinh ngày 09-02-2022 cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng. Thời hạn nuôi con tính từ ngày 05-7-2024 đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không xem xét về việc cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung: Chị M không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí: Chị M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008933 ngày 20-02-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng. Chị M đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Chị M và anh L có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
5 |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 05/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con M- L
