Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HS-ST

Ngày: 05/6/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Việt Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Công Trí, ông Nguyễn Hồng Thái.

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang – Thư ký viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Đáng – Kiểm sát viên Trung cấp.

Vào ngày 05 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 29/2024/TLST-HS ngày 24/4/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 30/2024/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 5 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Cao Quốc T (tên gọi khác: Nguyễn Văn Đ), sinh ngày 15/6/1986 tại tỉnh Cà Mau, nơi đăng ký HKTT: Áp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An, nơi tạm trú: Áp F, xã N, huyện B, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Không. Trình độ văn hóa (học vấn): 09/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Cao Văn B, sinh năm 1949 và bà Bùi Thị Mỹ T1, sinh năm 1951, có vợ tên Nguyễn Thị Ngọc H, sinh năm 1991 và 03 con (bị cáo khai tại phiên tòa con lớn nhất sinh năm 2012, con nhỏ nhất sinh năm 2022). Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 26/01/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, thành phố Hồ Chí Minh khởi tố bị can về tội Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Bị bắt tạm giam trong vụ án khác tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, TP, hiện đang được điều chuyển đến giam giữ tại Trại tạm giam Công an tỉnh P, có mặt tại phiên tòa.
  2. Võ Cao H1, sinh ngày 09/3/2001 tại tỉnh Cà Mau, nơi cư trú: Áp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Nghề nghiệp: Công nhân. Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12, giới tính: Nam, dân tộc: Kinh, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam, con ông Võ Văn N, sinh năm 1975 và Cao Mỹ P, sinh năm 1982. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

***

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1985, nơi cư trú: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Vắng mặt.
  2. Ông Cao Văn B, sinh năm 1949 và bà Bùi Thị Mỹ T1, sinh năm 1951, nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Ông B vắng mặt, bà T1 có mặt.
  3. Cao Mỹ P, sinh năm 1982, nơi cư trú: Áp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Đầu năm 2020, tại huyện B, tỉnh Long An, Cao Quốc T mua máy, thiết bị, phương tiện và nhiều vật dụng khác để làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Khoảng cuối năm 2020, tại ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Long An, Võ Cao H1 biết cậu ruột là Cao Quốc T làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức nên chủ động hỏi T cho làm chung để kiếm tiền. Thông đồng ý và lập tài khoản Z, F có tên “Nguyễn Ngọc Tuyết M” để H1 sử dụng và chỉ cách cho H1 vào nhóm làm giấy tờ giả trên Facebook đăng nội dung “Bên em có nhận làm các loại giấy tờ, bằng cấp, chứng chỉ và nhiều loại giấy tờ khác trong vòng 01 tuần có và kèm theo số điện thoại của H1 0783.463.708” để khách hàng liên lạc. Khi khách hàng đặt làm giả tài liệu gửi thông tin cá nhân qua Zalo cho H1, H1 chuyển tiếp thông tin qua Zalo của T có tên “Quốc H2”, “xuongthai”, “Gia bao” để làm giả. Sau khi làm giả xong, T gửi lại cho H1, H1 điện thoại cho Nguyễn Văn P1 để giao tài liệu giả cho khách hàng.

Từ ngày 05/11/2020 đến ngày 08/06/2022, H1 sử dụng tài khoản số 19034497913015 mở tại Ngân hàng TMCP K - Chi nhánh Q, thành phố Hồ Chí Minh để chuyển vào tài khoản số [...] của T sử dụng có tên Nguyễn Văn Đ mở tại Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh T5 (S2) 26.800.000đ, đây là tiền thu lợi bất chính từ hành vi làm giả giữa T với H1. Từ ngày 17/10/2021 đến ngày 22/4/2022, H1 sử dụng số tài khoản trên chuyển vào tài khoản số [...] của Nguyễn Văn P1 mở tại Ngân hàng S2, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh 1.650.000đ. Tổng số tiền H1 thu lợi bất chính từ hành vi làm giả là 28.450.000đ.

Nguyễn Văn P1 biết T, H1, H3 làm giả tài liệu của các cơ quan, tổ chức và đồng ý vận chuyển nhiều máy móc, thiết bị mà H3 đặt mua tại thành phố Hồ Chí Minh về cho H3 để làm tài liệu giả và giao tài liệu giả cho khách hàng của T, H1, H3. Từ ngày 17/10/2021 đến ngày 25/5/2022, P1 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] của P1 nhận tiền công giao tài liệu giả với tổng số tiền 28.010.000đ; trong đó: H3 chuyển từ các tài khoản Ngân hàng M1, Ngân hàng S3 số 4574933001 tên Trương Quang H4 với số tiền 25.260.000đ, T chuyển từ tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên Nguyễn Văn Đ với số tiền 1.100.000đ, H1 chuyển từ tài khoản Ngân hàng TMCP K (T6) số 19034497913015 của H1 với số tiền 1.650.000đ.

Khoảng tháng 8/2021, Phạm Minh H5 tìm hiểu và quen biết với T, rồi cùng nhau làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Từ ngày 18/8/2021 đến ngày 08/4/2022, H5 đã sử dụng tài khoản Ngân hàng TMCP C (V1) số [...] của H5 và các tài khoản Ngân hàng TMCP Đ2 (B1) số 73510001151785, Ngân hàng TMCP S1 (S3) số 4574933001, Ngân hàng TMCP Q1 (MB) số 0123406121998 tên Trương Quang H4 chuyển tiền cho T vào tài khoản Ngân hàng TMCP S1 (S2) số [...] tên Nguyễn Văn Đ với tổng số tiền 220.249.000đ, là tiền H5T cùng thu lợi bất chính. Tổng số tiền T thu lợi bất chính từ hành vi làm giả là 248.149.000đ (trong đó H5 chuyển 220.249.000đ, H1 chuyển 26.800.000đ, T chuyển cho P1 1.100.000đ).

Khoảng đầu tháng 7/2022, Z “bòsữa” đặt H5 làm giả 04 tài liệu gồm: “Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân số 68/UBND-XNTTHN ngày 16/06/2022 của UBND thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn”; “Trích lục khai sinh (bản sao) số 108/TLKS-BS ngày 12/7/2022 của UBND thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Lạng Sơn”; “Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự” số 58/2020/HNGĐ ngày 21/9/2020 của TAND huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An”; “Trích lục khai sinh (bản sao) số 460/TLKS-BS ngày 16/7/2022 của UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An, mỗi tài liệu có giá 500.000đ. Sau khi làm xong, H5 giao cho P1 để chuyển cho “bòsữa” thì bị Công an tỉnh P bắt quả tang lúc 08 giờ 40 ngày 16/7/2022.

Khám xét chỗ ở của Phạm Minh H5Ấp A, xã T, huyện B, tỉnh Long An, phát hiện, thu giữ 90 dấu tròn bằng polyme và cao su của các cơ quan, tổ chức trên toàn quốc và nhiều công cụ, phương tiện, thiết bị khác có liên quan đến việc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. H5 khai nhận: 88 con dấu thu giữ là do H5 làm giả không đạt chất lượng, bị hư nên bỏ, H5 đã làm lại 88 con dấu đạt chất lượng gửi cho “Khắc dấu Háni”, còn lại 02 con dấu H5 làm giả để sử dụng khi có người yêu cầu đặt H5 làm giả.

Khám xét nhà trọ của Cao Quốc Tấp F, xã N, huyện B, tỉnh Long An phát hiện, thu giữ 23 hình dấu của các cơ quan, tổ chức và nhiều công cụ, phương tiện, thiết bị khác có liên quan đến việc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.

Tại các Kết luận giám định: số 437/KL-KTHS ngày 18/11/2022, số 457/KL-KTHS ngày 05/12/2022, số 29/KL-KTHS ngày 31/01/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh P và số 460/KL-KTHS ngày 02/12/2022, số 478/KL-KTHS ngày 16/12/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: 04 tài liệu, hình dấu trên tài liệu thu giữ khi bắt quả tang Phạm Minh H5 giao cho Nguyễn Văn P1 là hình dấu, chữ ký giả. Trong 81 hình dấu từ các con dấu và 02 hình dấu trên 02 tài liệu thu được trong quá trình khám xét chỗ ở của bị can Phạm Minh H6 có có 80 hình dấu từ các con dấu và 01 hình dấu trên tài liệu là giả, 01 hình dấu từ con dấu và 01 hình dấu trên tài liệu không giám định được. Trong 09 hình dấu từ các con dấu và 05 tài liệu thu được trong quá trình khám xét chỗ ở của Cao Quốc T có 09 hình dấu giả và 05 tài liệu là chữ ký, hình dấu thật.

Tại Cáo trạng số: 39/CT-VKSPY-P1 ngày 19/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điểm a, c Khoản 3, Điều 341 Bộ luật Hình sự đối với Cao Quốc T và Đ1 b, đ Khoản 2, Điều 341 Bộ luật Hình sự đối với Võ Cao H1.

Tại phiên tòa, các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 vẫn khai nhận tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Về hình phạt:

Áp dụng Điểm a, c Khoản 3, Khoản 4, Điều 341; Điểm s Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Quốc T.

Xử phạt bị cáo Cao Quốc T từ 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng đến 05 (năm) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Cao Quốc T từ 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) đến 25.000.000đ (Hai mươi lăm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng Điểm b, đ Khoản 2, Khoản 4, Điều 341; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Cao H1.

Xử phạt bị cáo Võ Cao H1 từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Võ Cao H1 từ 10.000.000đ (Mười triệu đồng) đến 15.000.000đ (Mười lăm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Về biện pháp tư pháp khác: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền thu lợi bất chính của Cao Quốc T là 27.900.000đ, bị cáo T đã nộp 10.000.000đ nên còn phải nộp 17.900.000đ; của Võ Cao H1 là 28.450.000đ, đã nộp đủ.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự;

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội:

  • - 01 máy in Epson L1800, số series UBLY038489;
  • - 01 máy in Canon MF3010, số series YCD47002;
  • - 01 máy in thẻ HiTi số series C2E00091200129;
  • - 01 máy in Epson LQ310, số series R9DY090451;
  • - 01 máy in Epson T50 số series LCVK045083;
  • - 01 máy cán màng FM-330;
  • - 01 CPU máy vi tính;
  • - 01 màn hình máy vi tính có chữ Dell;
  • - 01 máy khắc laser số series 20210715;
  • - 01 máy hàn màu cam số series SL202110;
  • - 01 tổ hợp kim loại, gỗ màu xám, kích thước (45x98x72)cm, phía dưới có chân đạp, phía trên bề mặt gỗ có gắn tổ hợp kim loại màu xám có chữ “TAKING TK-808” có dây điện kết nối;
  • - 01 bàn cắt giấy;
  • - 01 vật bằng kim loại hình hộp kích thước (17x20x24)cm;
  • - 05 vật bằng kim loại hình chữ nhật kích thước khác nhau;
  • - 01 máy quay tay ép hình dấu tròn bằng kim loại nhiều kết cấu khác nhau có kích thước (18x17x6)cm;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S4 đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, không kiểm tra tình trạng bên trong, mặt sau không có vỏ bọc;
  • - 01 cục sạc pin điện thoại màu trắng hiệu Samsung;
  • - 01 cuộn giấy bóng nhựa;
  • - 02 thước đặc biệt chuyên dùng vẽ hình tròn;
  • - 01 cổng gắn thẻ nhớ màu xanh;
  • - 01 cổng màu trắng hiệu Samsung;
  • - 02 tập nhựa A4 màu trắng 19 tờ;
  • - 02 tập giấy A4 loại cứng màu trắng;
  • - 01 tập giấy A4 màu xanh;
  • - 01 tập nhựa dẻo cỡ A4;
  • - 01 tập giấy A3 loại cứng.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và vật chứng là tài liệu giả nhưng không còn giá trị sử dụng:

  • - 23 hình dấu của các cơ quan, tổ chức khác nhau;
  • - 06 chai mực màu sắc khác nhau được để trong 01 túi nilon màu đen;
  • - 01 bằng tốt nghiệp cao đẳng của Trường Cao đẳng Y tên Huỳnh Phương T2;
  • - 01 chai keo đổ con dấu hiệu PHOTOPOLYMER;
  • - 02 cuốn vở học sinh có ghi nội dung bên trong;
  • - 01 hộp tăm bông màu đỏ;
  • - 01 hộp tăm bông màu đen;
  • - 02 hộp tăm bông màu xanh;
  • - 02 tập giấy có chữ Agold;
  • - 03 hộp đóng dấu tên chưa sử dụng;
  • - 02 hộp đóng dấu hình tròn không có dấu;
  • - 02 dấu bản sao;
  • - 01 dấu tên Lê Thị H7;
  • - 01 dấu tên Nguyễn Minh T3;
  • - 01 dấu tên Lý Trần Hoàng V;
  • - 01 dấu tên Nguyễn Văn P2;
  • - 01 dấu tên Hà Văn T4;
  • - 01 dấu ký thay chủ tịch Phó Chủ tịch;
  • - 01 con dấu ngày, tháng, năm;
  • - 03 tấm cao su màu xanh khổ A4;
  • - 04 chổi lông màu đỏ chữ Trung Quốc;
  • - 04 chổi lông màu vàng chữ Trung Quốc;
  • - 01 ổ cứng di động màu đen có dây hiệu My Passport;
  • - 01 ruy băng máy in thẻ nhựa HITI CS200E;
  • - 01 vật giống USB màu cam có ghi dòng chữ “Lihuiyu Studio Labs”;
  • - 16 chíp có chữ YMCKO;
  • - 08 tấm nhựa cứng màu trắng cỡ A4;
  • - 60 tấm thẻ nhựa kích thức như căn cước công dân;
  • - 76 tấm nhựa dẻo kích thức như căn cước công dân;
  • - 06 phong bì Viett Post;
  • - 16 tấm giấy màu vàng có dán giấy bóng có biểu tượng hình Bông Sen;
  • - 02 tấm giấy bên trên có nhiều hình tròn ghi chữ Đường bộ Việt Nam;
  • - 01 tập giấy cỡ A4 màu vàng có in hình ngôi sao.

(Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả theo như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên)

Các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 nói lời sau cùng, đều xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng; người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không ai ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Mặc dù tại phiên tòa, một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt, tuy nhiên, những người này đã có lời khai đầy đủ, rõ ràng tại hồ sơ vụ, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xác định sự thật khách quan của vụ án và không gây trở ngại cho việc xét xử; do đó, chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác, căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng Hình sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án.

[3] Lời khai nhận tội của các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan về thời gian, địa điểm phạm tội, công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Từ năm 2020 đến ngày 16/7/2022, tại huyện B, tỉnh Long An, Cao Quốc T đã có hành vi mua máy móc, thiết bị, phương tiện và nhiều vật dụng khác để làm giả tổng cộng 09 con dấu và nhiều tài liệu của cơ quan, tổ chức, thu lợi bất chính tổng số tiền 248.149.000đ. Võ Cao H1 thông qua điện thoại, Z, Facebook nhiều lần nhận làm giấy tờ giả rồi chuyển thông tin khách hàng cho Cao Quốc T thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, thu lợi bất chính 28.450.000đ. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên truy tố các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điểm a, c Khoản 3, Điều 341 Bộ luật Hình sự đối với Cao Quốc T và Đ1 b, đ Khoản 2, Điều 341 Bộ luật Hình sự đối với Võ Cao H1 là có căn cứ, đúng tội.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến hoạt động đúng đắn, uy tín của các cơ quan, tổ chức liên quan, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại nhiều địa phương trên cả nước. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của từng bị cáo gây ra, Hội đồng xét xử thấy:

[4.1] Đối với bị cáo Cao Quốc T: Từ năm 2020 đến ngày 16/7/2022, tại huyện B, tỉnh Long An, Cao Quốc T đã có hành vi mua máy móc, thiết bị, phương tiện và nhiều vật dụng khác để làm giả tổng cộng 09 con dấu và nhiều tài liệu của cơ quan, tổ chức, thu lợi bất chính tổng số tiền 248.149.000đ. Sau khi phạm tội, bị cáo bỏ trốn và bị bắt theo Quyết định truy nã của cơ quan điều tra. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Đồng thời, mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo T phải cao hơn mức hình phạt áp dụng đối với bị cáo H1 mới tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo. Tuy nhiên, xét bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp số tiền 10.000.000đ thu lợi bất chính theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt. Đồng thời, áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 4, Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[4.1] Đối với bị cáo Võ Cao H1 thông qua điện thoại, Z, F nhận làm giấy tờ giả rồi chuyển thông tin khách hàng cho Cao Quốc T thực hiện hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, thu lợi bất chính 28.450.000đ. Bị cáo Võ Cao H1 phạm tội với vai trò giúp sức cho bị cáo Cao Quốc T nên cần áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Tuy nhiên, xét bị cáo có nhân thân tốt và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện nộp toàn bộ số tiền 28.450.000đ thu lợi bất chính theo quy định tại Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, xử phạt bị cáo mức hình phạt ở mức thấp nhất của khung hình phạt mà Điều luật quy định cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm. Đồng thời, áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 4, Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[5] Về biện pháp tư pháp khác: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự để xử lý, cụ thể như sau:

[5.1] Bị cáo Cao Quốc T thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức số tiền 248.149.000đ, trong đó có số tiền 220.249.000đ là tiền của bị cáo TPhạm Minh H6 cùng thu lợi bất chính. Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 45/2023/HS-ST ngày 07/8/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên đã có hiệu lực pháp luật, tuyên buộc Phạm Minh H6 phải nộp lại số tiền 220.249.000đ thu lợi bất chính. Do đó, buộc bị cáo Cao Quốc T phải nộp lại số tiền 27.900.000đ thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước, được khấu trừ số tiền 10.000.000đ do bị cáo Cao Quốc T đã nộp trước nên bị cáo Cao Quốc T còn phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 17.900.000đ để sung quỹ nhà nước.

[5.2] Bị cáo Võ Cao H1 thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức số tiền 28.450.000đ, do đó, buộc bị cáo Võ Cao H1 phải nộp lại số tiền 28.450.000đ thu lợi bất chính để sung quỹ nhà nước, bị cáo đã nộp đủ.

[6] Về xử lý vật chứng: Chấp nhận ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa, xem xét xử lý vật chứng cụ thể như sau:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội:

  • - 01 máy in Epson L1800, số series UBLY038489;
  • - 01 máy in Canon MF3010, số series YCD47002;
  • - 01 máy in thẻ HiTi số series C2E00091200129;
  • - 01 máy in Epson LQ310, số series R9DY090451;
  • - 01 máy in Epson T50 số series LCVK045083;
  • - 01 máy cán màng FM-330;
  • - 01 CPU máy vi tính;
  • - 01 màn hình máy vi tính có chữ Dell;
  • - 01 máy khắc laser số series 20210715;
  • - 01 máy hàn màu cam số series SL202110;
  • - 01 tổ hợp kim loại, gỗ màu xám, kích thước (45x98x72)cm, phía dưới có chân đạp, phía trên bề mặt gỗ có gắn tổ hợp kim loại màu xám có chữ “TAKING TK-808” có dây điện kết nối;
  • - 01 bàn cắt giấy;
  • - 01 vật bằng kim loại hình hộp kích thước (17x20x24)cm;
  • - 05 vật bằng kim loại hình chữ nhật kích thước khác nhau;
  • - 01 máy quay tay ép hình dấu tròn bằng kim loại nhiều kết cấu khác nhau có kích thước (18x17x6)cm;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S4 đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, không kiểm tra tình trạng bên trong, mặt sau không có vỏ bọc;
  • - 01 cục sạc pin điện thoại màu trắng hiệu Samsung;
  • - 01 cuộn giấy bóng nhựa;
  • - 02 thước đặc biệt chuyên dùng vẽ hình tròn;
  • - 01 cổng gắn thẻ nhớ màu xanh;
  • - 01 cổng màu trắng hiệu Samsung;
  • - 02 tập nhựa A4 màu trắng 19 tờ;
  • - 02 tập giấy A4 loại cứng màu trắng;
  • - 01 tập giấy A4 màu xanh;
  • - 01 tập nhựa dẻo cỡ A4;
  • - 01 tập giấy A3 loại cứng.

- Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội và vật chứng là tài liệu giả nhưng không còn giá trị sử dụng:

  • - 23 hình dấu của các cơ quan, tổ chức khác nhau;
  • - 06 chai mực màu sắc khác nhau được để trong 01 túi nilon màu đen;
  • - 01 bằng tốt nghiệp cao đẳng của Trường Cao đẳng Y tên Huỳnh Phương T2;
  • - 01 chai keo đổ con dấu hiệu PHOTOPOLYMER;
  • - 02 cuốn vở học sinh có ghi nội dung bên trong;
  • - 01 hộp tăm bông màu đỏ;
  • - 01 hộp tăm bông màu đen;
  • - 02 hộp tăm bông màu xanh;
  • - 02 tập giấy có chữ Agold;
  • - 03 hộp đóng dấu tên chưa sử dụng;
  • - 02 hộp đóng dấu hình tròn không có dấu;
  • - 02 dấu bản sao;
  • - 01 dấu tên Lê Thị H7;
  • - 01 dấu tên Nguyễn Minh T3;
  • - 01 dấu tên Lý Trần Hoàng V;
  • - 01 dấu tên Nguyễn Văn P2;
  • - 01 dấu tên Hà Văn T4;
  • - 01 dấu ký thay chủ tịch Phó Chủ tịch;
  • - 01 con dấu ngày, tháng, năm;
  • - 03 tấm cao su màu xanh khổ A4;
  • - 04 chổi lông màu đỏ chữ Trung Quốc;
  • - 04 chổi lông màu vàng chữ Trung Quốc;
  • - 01 ổ cứng di động màu đen có dây hiệu My Passport;
  • - 01 ruy băng máy in thẻ nhựa HITI CS200E;
  • - 01 vật giống USB màu cam có ghi dòng chữ “Lihuiyu Studio Labs”;
  • - 16 chíp có chữ YMCKO;
  • - 08 tấm nhựa cứng màu trắng cỡ A4;
  • - 60 tấm thẻ nhựa kích thức như căn cước công dân;
  • - 76 tấm nhựa dẻo kích thức như căn cước công dân;
  • - 06 phong bì Viett Post;
  • - 16 tấm giấy màu vàng có dán giấy bóng có biểu tượng hình Bông Sen;
  • - 02 tấm giấy bên trên có nhiều hình tròn ghi chữ Đường bộ Việt Nam;
  • - 01 tập giấy cỡ A4 màu vàng có in hình ngôi sao.

(Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả theo như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên)

[7] Người sử dụng tài khoản Zalo tên “Khắc Dấu H8”, “bòsữa” và các đối tượng khác đã đặt làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức, do không rõ nhân thân, lai lịch, địa chỉ cụ thể và không có tài liệu chứng cứ khác nên quá trình điều tra chưa làm rõ được hành vi vi phạm. Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xử lý sau.

[8] Cao Quốc T sử dụng tài khoản Ngân hàng S2 số [...] tên Nguyễn Văn Đ để nhận tiền thu lợi bất chính từ việc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức do H6 chuyển nhưng Đ làm mất Chứng minh nhân dân số [...], do Công an tỉnh Đ cấp ngày 20/01/2017 từ khoảng năm 2019. Đấu không mở tài khoản Ngân hàng số [...], không quen biết T nên không đồng phạm với T.

[9] Phạm Minh H6Nguyễn Văn P1: Ngày 07/8/2023, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm và xử phạt Phạm Minh H6 04 năm 06 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại Điểm a, c Khoản 3, Điều 341 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Văn P1 02 năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 341 Bộ luật Hình sự, bản án đã có hiệu lực pháp luật.

[10] Về án phí: Các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1 phạm tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng Đ1 a, c Khoản 3, Khoản 4, Điều 341; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51; Điểm g, Khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Cao Quốc T.

Xử phạt bị cáo Cao Quốc T 04 (Bốn) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Cao Quốc T 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Áp dụng Điểm b, đ Khoản 2, Khoản 4, Điều 341; Điểm s, Khoản 1, Khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Võ Cao H1.

Xử phạt bị cáo Võ Cao H1 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án.

Phạt bổ sung bị cáo Võ Cao H1 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Về biện pháp tư pháp khác: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Buộc bị cáo Cao Quốc T phải nộp lại số tiền 27.900.000đ thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để sung quỹ nhà nước, được khấu trừ số tiền 10.000.000đ do bị cáo Cao Quốc T đã nộp khắc phục hậu quả (do ông Cao Văn B nộp thay) đã được chuyển vào tài khoản tạm giữ số [...] của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh P vào ngày 18/3/2024 (BL 1718, 1719). Do đó, bị cáo Cao Quốc T còn phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính là 17.900.000đ (Mười bảy triệu, chín trăm nghìn đồng).

Buộc bị cáo Võ Cao H1 phải nộp lại số tiền 28.450.000đ thu lợi bất chính từ hành vi phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để sung quỹ nhà nước. Bị cáo đã nộp đủ tại các phiếu thu: + Số tiền 2.000.000đ do bị cáo Võ Cao H1 nộp khắc phục hậu quả (ông Cao Văn B nộp thay) đã được chuyển vào tài khoản tạm giữ số [...] của Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P mở tại Kho bạc Nhà nước tỉnh P vào ngày 18/3/2024 (BL 1720, 1721). + Số tiền 8.000.000đ do bị cáo Võ Cao H1 nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002301 ngày 13/5/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên. + Số tiền 18.450.000đ do bị cáo Võ Cao H1 nộp khắc phục hậu quả theo Biên lai thu tiền số 0002343 ngày 04/6/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước đối với:

  • - 01 máy in Epson L1800, số series UBLY038489;
  • - 01 máy in Canon MF3010, số series YCD47002;
  • - 01 máy in thẻ HiTi số series C2E00091200129;
  • - 01 máy in Epson LQ310, số series R9DY090451;
  • - 01 máy in Epson T50 số series LCVK045083;
  • - 01 máy cán màng FM-330;
  • - 01 CPU máy vi tính;
  • - 01 màn hình máy vi tính có chữ Dell;
  • - 01 máy khắc laser số series 20210715;
  • - 01 máy hàn màu cam số series SL202110;
  • - 01 tổ hợp kim loại, gỗ màu xám, kích thước (45x98x72)cm, phía dưới có chân đạp, phía trên bề mặt gỗ có gắn tổ hợp kim loại màu xám có chữ “TAKING TK-808” có dây điện kết nối;
  • - 01 bàn cắt giấy;
  • - 01 vật bằng kim loại hình hộp kích thước (17x20x24)cm;
  • - 05 vật bằng kim loại hình chữ nhật kích thước khác nhau;
  • - 01 máy quay tay ép hình dấu tròn bằng kim loại nhiều kết cấu khác nhau có kích thước (18x17x6)cm;
  • - 01 điện thoại di động hiệu S4 đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ, không kiểm tra tình trạng bên trong, mặt sau không có vỏ bọc;
  • - 01 cục sạc pin điện thoại màu trắng hiệu Samsung;
  • - 01 cuộn giấy bóng nhựa;
  • - 02 thước đặc biệt chuyên dùng vẽ hình tròn;
  • - 01 cổng gắn thẻ nhớ màu xanh;
  • - 01 cổng màu trắng hiệu Samsung;
  • - 02 tập nhựa A4 màu trắng 19 tờ;
  • - 02 tập giấy A4 loại cứng màu trắng;
  • - 01 tập giấy A4 màu xanh;
  • - 01 tập nhựa dẻo cỡ A4;
  • - 01 tập giấy A3 loại cứng.

Tịch thu tiêu hủy đối với:

  • - 23 hình dấu của các cơ quan, tổ chức khác nhau;
  • - 06 chai mực màu sắc khác nhau được để trong 01 túi nilon màu đen;
  • - 01 bằng tốt nghiệp cao đẳng của Trường Cao đẳng Y tên Huỳnh Phương T2;
  • - 01 chai keo đổ con dấu hiệu PHOTOPOLYMER;
  • - 02 cuốn vở học sinh có ghi nội dung bên trong;
  • - 01 hộp tăm bông màu đỏ;
  • - 01 hộp tăm bông màu đen;
  • - 02 hộp tăm bông màu xanh;
  • - 02 tập giấy có chữ Agold;
  • - 03 hộp đóng dấu tên chưa sử dụng;
  • - 02 hộp đóng dấu hình tròn không có dấu;
  • - 02 dấu bản sao;
  • - 01 dấu tên Lê Thị H7;
  • - 01 dấu tên Nguyễn Minh T3;
  • - 01 dấu tên Lý Trần Hoàng V;
  • - 01 dấu tên Nguyễn Văn P2;
  • - 01 dấu tên Hà Văn T4;
  • - 01 dấu ký thay chủ tịch Phó Chủ tịch;
  • - 01 con dấu ngày, tháng, năm;
  • - 03 tấm cao su màu xanh khổ A4;
  • - 04 chổi lông màu đỏ chữ Trung Quốc;
  • - 04 chổi lông màu vàng chữ Trung Quốc;
  • - 01 ổ cứng di động màu đen có dây hiệu My Passport;
  • - 01 ruy băng máy in thẻ nhựa HITI CS200E;
  • - 01 vật giống USB màu cam có ghi dòng chữ “Lihuiyu Studio Labs”;
  • - 16 chíp có chữ YMCKO;
  • - 08 tấm nhựa cứng màu trắng cỡ A4;
  • - 60 tấm thẻ nhựa kích thức như căn cước công dân;
  • - 76 tấm nhựa dẻo kích thức như căn cước công dân;
  • - 06 phong bì Viett Post;
  • - 16 tấm giấy màu vàng có dán giấy bóng có biểu tượng hình Bông Sen;
  • - 02 tấm giấy bên trên có nhiều hình tròn ghi chữ Đường bộ Việt Nam;
  • - 01 tập giấy cỡ A4 màu vàng có in hình ngôi sao.

(Tất cả các vật chứng có đặc điểm mô tả theo như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 06/5/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh P và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Phú Yên)

Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Các bị cáo Cao Quốc T, Võ Cao H1, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

- TAND Cấp cao tại Đà Nẵng;

- VKSND Cấp cao tại Đà Nẵng;

- VKSND tỉnh Phú Yên (2);

- CQ CSĐT Công an tỉnh Phú Yên;

- Phòng Hồ sơ NV Công an tỉnh Phú Yên;

- Sở Tư pháp tỉnh Phú Yên;

- Cục THADS tỉnh Phú Yên;

- CQ. CSĐT Công an huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh;

- NTG Công an huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh;

- Bị cáo, NTGTT;

- P. KTNV THAHS;

- Lưu HS, AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Việt Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HS-ST ngày 05/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức

  • Số bản án: 36/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án - HSST - CAO QUỐC T và H - làm giả con dấu tài liệu - CT HÙNG
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger