Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIỒNG TRÔM

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2023/HS-ST

Ngày: 03 - 11 - 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Huệ
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trương Văn Te
  • Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Minh Thơ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 33/2023/TLST-HS ngày 09 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2023/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 10 năm 2023, đối với bị cáo:

Lý Thị H, sinh ngày 10/10/1991; nơi sinh tại tỉnh Đồng Tháp; tên gọi khác: không. Nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre; nghề nghiệp: công nhân; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Văn T, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1970; chồng Lê Tấn C, sinh năm 1987; có 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 27/7/2023 cho đến nay, bị cáo (có mặt).

- Bị hại: Chị Bùi Thị Anh T2, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp N, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

- Người làm chứng:

  1. Anh Huỳnh Thanh S, sinh năm 1992. Nơi cư trú: ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).
  2. Chị Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp C, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lý Thị H là công nhân của Công ty V hàng ngày đi làm sử dụng phương tiện là xe mô tô biển số 59Y1-918.15. Khoảng 07 giờ ngày 22/5/2023, Lý Thị H đi làm ngang khu vực ấp N xã M huyện G, thì ghé vào nơi chị Bùi Thị Anh T2 bán bánh mì, bánh ướt để mua bánh mì, H dựng xe mô tô đi vào mua 01 ổ bánh mì giá 15.000 đồng, trong lúc đợi lấy bánh mì, H phát hiện 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, vỏ màu xanh của chị T2 để trên tủ bánh mì, H nảy sinh ý định lấy trộm điện thoại này của chị T2. Khi chị T2 giao ổ bánh mì cho H, H trả chị T2 200.000 đồng, lợi dụng lúc chị T2 khom người xuống học tủ lấy tiền thối lại cho H. H dùng tay trái lấy điện thoại của chị T2 để vào túi quần phía trước bên trái H đang mặc, H nhận tiền thối từ chị T2 rồi lên xe mô tô điều khiển đến Công ty V tại phường H, thành phố B để làm việc. Lúc 10 giờ 20 phút cùng ngày, chị T2 đến Công an xã M, huyện G trình báo sự việc.

Qua kiểm tra camera an ninh của Công an xã M, huyện G lắp đặt gần khu vực chị T2 bán bánh mì xác định được H là người đến mua bánh mì rồi lấy trộm điện thoại của chị T2. Khoảng 17 giờ 15 phút cùng ngày, H tan ca điều khiển xe mô tô về đến xã M, huyện G thì bị Công an xã M mời về trụ sở Công an để làm việc. Tại đây, H thừa nhận đã lén lút lấy trộm điện thoại di động của chị T2.

Cơ quan điều tra tạm giữ đồ vật, tài sản của Lý Thị H gồm:

  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, loại cảm ứng, vỏ màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0362.728.050.
  • - 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển số 59Y1-918.15.

Tại Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 19/6/2023 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện G kết luận về giá trị tài sản bị mất trộm như sau: 01 điện thoại di động hiệu Oppo A57, kiểu máy CPH2407, bộ nhớ 128GB mua mới ngày 28/4/2023, trị giá 4.000.000 đồng.

Quá trình điều tra, Lý Thị H khai nhận hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai bị hại, phù hợp lời khai những người làm chứng, kết quả xác định hiện trường, khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ, kết luận định giá, cùng các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập.

Về xử lý vật chứng: ngày 27/7/2023, Cơ quan điều tra đã trả lại điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, loại cảm ứng, vỏ màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0362.728.050 cho bị hại Bùi Thị Anh T2 .

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Bùi Thị Anh T2 đã nhận lại tài sản bị cáo chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo Lý Thị H phải bồi thường gì khác.

Bản Cáo trạng số 34/CT-VKSGT, ngày 06 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre truy tố Lý Thị H về “Tội trộm cắp tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo phù hợp với nội dung kết luận điều tra và cáo trạng đã truy tố.

Bị hại chị Bùi Thị Anh T2 vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết xét xử vắng mặt và nội dung đơn xác định về trách nhiệm dân sự xác định đã nhận được chiếc điện thoại bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Về trách nhiệm hình sự bị hại có đơn yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Lý Thị Hiền p “Tội trộm cắp tài sản”.

  • - Về trách nhiệm hình sự: áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự. Phạt bị cáo Lý Thị H có mức án từ 06 (sáu) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là từ 12 (mười hai) tháng đến 24 (mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại đã nhận lại được chiếc điện thoại bị chiếm đoạt và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
  • - Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trả cho bị cáo: 01(một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển số 59Y1- 918.15 vì xe mô tô không phải là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội.

Lời nói sau cùng của bị cáo là hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng đều vắng mặt, đối với bị hại vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu giải quyết, xét xử vắng mặt, về trách nhiệm dân sự tài sản mất trộm đã thu hồi trả lại cho bị hại và bị hại không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác. Trong quá trình điều tra bị hại, người làm chứng đã có lời khai rõ ràng, nên sự vắng mặt của bị hại, người làm chứng không làm trở ngại cho việc xét xử, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người tham gia tố tụng nêu trên theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[3] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo Lý Thị H tại phiên tòa là phù hợp với lời khai bị cáo tại Cơ quan điều tra, đồng thời phù hợp lời khai bị hại, lời khai của người làm chứng, kết quả xác định hiện trường, khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập. Do đó, có cơ sở khẳng định:

Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 22/5/2023, tại ấp N, xã M, huyện G, tỉnh Bến Tre, Lý Thị H thực hiện hành vi lén lút trộm cắp tài sản của chị Bùi Thị Anh T2 là 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, loại cảm ứng, vỏ màu xanh, trị giá 4.000.000 đồng.

Bị cáo Lý Thị H thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Như vậy, có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Lý Thị Hiền p “Tội trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lý Thị H là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là công nhân đi làm hàng bằng phương tiện xe mô tô biển số 59Y1-918.15, ngày 22/5/2023 trên đường đi làm bị cáo ghé mua bánh mì, trong lúc chờ giao bánh mì thì bị cáo nhìn thấy điện thoại của chị T2 nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Do xuất phát từ bản tính tham lam và ý thức xem thường pháp luật, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của chị T2 trong việc quản lý tài sản, đã thực hiện hành vi lén lút lấy trộm tài sản của chị T2 là một điện thoại nhằm mục đích để sử dụng.

Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm phạm trực tiếp đến tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp người khác được pháp luật bảo vệ mà còn làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn tại địa phương nơi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Do vậy, đối với bị cáo cần xét xử nghiêm theo quy định của pháp luật.

[5] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

  • - Về nhân thân: tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo không có tiền án, tiền sự, nên xác định bị cáo có nhân thân tốt.
  • - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: ngoài tính tiết định tội, bị cáo không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị là 4.000.000 đồng đã được thu hồi trả lại cho bị hại gây thiệt hại không lớn, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của mình; ngoài ra bị hại có yêu cầu giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và xin cho bị cáo được hưởng án treo. Do đó, bị cáo được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6] Qua phân tích xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiệm tọng, không có tính tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng. Xét thấy, bị cáo có khả năng tự cải tạo, nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, cho bị cáo hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách và thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo luật định, giao bị cáo cho chính quyền nơi bị cáo cư trú phối hợp với gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo nghề nghiệp là công nhân thu nhập không ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[8] Về xử lý vật chứng:

Trong quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã xử lý vật chứng: trả lại cho chị Bùi Thị Anh T2 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, loại cảm ứng, vỏ màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0362.728.050 vào ngày 27/7/2023. Xét thấy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G xử lý vật chứng trong quá trình điều tra là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại Wave RSX, màu sơn đỏ đen, biển số 59Y1-918.15 đã tạm giữ: xét thấy bị cáo nảy sinh ý định trộm chiếc điện thoại của bị hại ngay trong lúc bị cáo chờ bị hại giao bánh mì nên xe mô tô không phải là phương tiện bị cáo sử dụng thực hành vi phạm tội, nên trả lại cho bị cáo là phù theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[9] Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị hại Bùi Thị Anh T2 đã nhận lại điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A57, loại cảm ứng, vỏ màu xanh, bên trong gắn thẻ sim số 0362.728.050. Ngoài ra, bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác, nên không xem xét.

[10] Đối với đề nghị của Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo, về xử lý vật chứng của vụ án là hợp với quy định của pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[11] Về án phí: Bị cáo Lý Thị H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lý Thị Hiền p“Tội trộm cắp tài sản”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Phạt bị cáo Lý Thị H 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01(một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 03 tháng 11 năm 2023.

Giao bị cáo Lý Thị H cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện G, tỉnh Bến Tre kết hợp cùng với gia đình bị cáo để giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự.

Việc giải quyết vắng mặt tại nơi cư trú, thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc đối với người được hưởng án treo thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

2. Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. T4:

Trả lại cho bị cáo Lý Thị H một xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại WaveRSX, màu sơn đỏ đen, biển số 59Y1-918.15. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/10/2023 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện G, tỉnh Bến Tre và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre).

3. Về án phí: căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lý Thị H phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Giồng Trôm;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THA dân sự huyện Giồng Trôm;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Lương Hòa, huyện Giồng Trôm
  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Lưu: Văn phòng, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thanh Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2023/HS-ST ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE về tội trộm cắp tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 36/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tội trộm cắp tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIỒNG TRÔM, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger