TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST Ngày: 03-5-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thế Thị Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Nguyễn Thị Thắm.
- Bà Nguyễn Kim Lý
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thủy - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 18/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về việc “tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 17 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Quốc K, sinh năm 1983 (xin vắng mặt).
- Bị đơn: Bà Hà Thị Ánh S, sinh năm 1978 (xin vắng mặt).
Địa chỉ thường trú: Tổ G, ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
Địa chỉ tạm trú: Nhà trọ M, số nhà B đường B, tổ B, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương
Địa chỉ thường trú: Tổ dân phố T, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 5 trại giam X, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 20/10/2023, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Quốc K trình bày:
Ông K và bà Hà Thị Ánh S tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2016 tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Trong thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, tính tình không hợp. Cuộc sống vợ chồng thường mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. Ông K và bà S đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành và vợ chồng đã không còn hạnh phúc.
Do làm ăn kinh tế vi phạm pháp luật nên bà S đã bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2016 và bị kết án 18 năm tù. Hiện bà S đang chấp hành án tại Phân trại số 5 trại giam X, tỉnh Đồng Nai.
Từ ngày 26/12/2016 đến nay cuộc sống vợ chồng trên thực tế giữa ông K và bà S không còn. Nhận thấy hôn nhân không hạnh phúc và không thể duy trì hôn nhân nên ông K gửi đơn khởi kiện ly hôn với bà S. Trước đây ông K gửi đến Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai thì ông K ghi địa chỉ cư trú của bà S là ở tổ A, khu phố C, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã tiến hành làm việc, lấy lời khai của bà S, bà S đồng ý ly hôn với ông K. Bà S và ông K đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương là Tòa án nơi ông K hiện đang tạm trú để giải quyết việc ly hôn.
Nay ông K yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát giải quyết cho ông K được ly hôn với bà S.
Về con chung : Ông K và bà S không có con chung
Về tài sản chung, nợ chung : Ông K và bà S tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn bà Hà Thị Ánh S có lời khai trong quá trình giải quyết vụ án :
Bà S và ông K tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2015, có đăng ký kết hôn tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó quá trình làm ăn không được thuận lợi nên bà S phải đi tù 18 năm không đảm bảo tình cảm, nên bà S đồng ý ly hôn với ông K.
Về con chung : Bà S và ông K không có con chung
Về tài sản chung : Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung : Không có liên quan, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà S đồng ý lựa chọn Tòa án nhân dân thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương giải quyết việc ly hôn giữa bà với ông K và yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát :
- Về thủ tục tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Quan hệ pháp luật các bên tranh chấp là tranh chấp về ly hôn. Bà S hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 5 trại giam X, tỉnh Đồng Nai. Ông Khởi kiện nay đang tạm trú tại Nhà trọ M, số nhà B đường B, tổ B, khu phố C, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương. Ông K và bà S có Văn bản lựa chọn Tòa án giải quyết vụ án là Tòa án nơi ông K cư trú. Do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
Ông K và bà S có yêu cầu giải quyết vụ án vắng mặt nên tiến hành xét xử vắng mặt ông K và bà S.
[2] Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Ông K và bà S tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn vào ngày 08/01/2016 tại UBND xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Do đó hôn nhân giữa ông K và bà S là hợp pháp.
Ông K yêu cầu ly hôn với bà S vì trong thời gian chung sống thì vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng về quan điểm, tính tình không hợp. Cuộc sống vợ chồng thường mâu thuẫn, thường xuyên cãi vã dẫn đến gia đình luôn căng thẳng. Ông K và bà S đã nhiều lần tìm cách để giải quyết mâu thuẫn nhưng không thành và vợ chồng đã không còn hạnh phúc. Do làm ăn kinh tế vi phạm pháp luật nên bà S đã bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2016 và bị kết án 18 năm tù. Hiện bà S đang chấp hành án tại Phân trại số 5 trại giam X, tỉnh Đồng Nai. Từ ngày 26/12/2016 đến nay cuộc sống vợ chồng trên thực tế giữa ông K và bà S không còn. Nhận thấy không thể duy trì hôn nhân nên ông K gửi đơn khởi kiện ly hôn với bà S.
Trong bản tự khai ngày 15/12/2023 bà S có ý kiến : Quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc, sau đó quá trình làm ăn không được thuận lợi nên bà S phải đi tù 18 năm không đảm bảo tình cảm, nên bà S đồng ý ly hôn với ông K.
Như vậy mâu thuẫn hôn nhân giữa ông K và bà S là đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Thực tế thì ông K và bà S không chung sống từ ngày 26/12/2016 đến nay không thể duy trì hôn nhân, bà S cũng đồng ý ly hôn với ông K. Do đó yêu cầu ly hôn của ông K là có căn cứ và được chấp nhận.
Về con chung: Ông K và bà S thống nhất không có con chung.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông K và bà S thống nhất không tranh chấp không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Ông K phải chịu theo quy định pháp luật.
[4] Các đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quốc K đối với bị đơn bà Hà Thị Ánh S về việc “tranh chấp ly hôn”. Ông Lê Quốc K được ly hôn với bà Hà Thị Ánh S.
Về con chung: Không có
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Ông Lê Quốc K phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng), được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai số: 0009319 ngày 27/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết công khai./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thế Thị Ngọc Anh |
Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Quốc K đối với bị đơn bà Hà Thị Ánh S về việc “tranh chấp ly hôn”
