Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 03-5-2024

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Trâm

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trí Chấn

2. Bà Nguyễn Thị Bé Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Phạm Linh Duy – Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 701/2023/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 12 năm 2023 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QÐST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 24A/2024/QÐST-HNGĐ ngày 15 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Dương Văn H, sinh năm 1962. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (Có yêu cầu giải quyết vắng mặt).

Bị đơn: Bà Phạm Thị H1, sinh năm 1963. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng tại Tòa án, đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, nguyên đơn ông Dương Văn H trình bày:

Về hôn nhân: Ông và bà Phạm Thị H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 30/8/1996 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau, vợ chồng thường xuyên cãi nhau. Mâu thuẫn kéo dài nhưng ông bà vẫn không khắc phục được nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay. Nay ông xác định vợ chồng không thể nào tiếp tục chung sống với nhau được nữa. Do đó, ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà H1. Ông H không yêu cầu Tòa án xem xét đến việc cấp dưỡng giữa vợ chồng sau khi ly hôn.

Về con chung: Có 04 con chung tên Dương Thị Hồng Q, sinh ngày 18/01/1982, Dương Thị Hồng N, sinh ngày 10/7/1984, Dương Hữu K, sinh ngày 02/5/1988 và Dương Hữu T, sinh ngày 20/4/1999. Hiện tại 04 con chung đã trưởng thành nên không xét đến.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận.

Nợ chung: Không có.

Bị đơn bà Phạm Thị H1 trong quá trình giải quyết vụ án mặc dù đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải, hồ sơ khởi kiện photo theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà H1 đều vắng mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu của bà H1.

Tại phiên tòa sơ thẩm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, thư ký và nguyên đơn đã tuân thủ theo quy định của pháp luật; riêng bị đơn không tuân thủ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà H1 kéo dài đã nhiều năm nhưng ông bà không tự khắc phục được. Trong suốt quá trình tố tụng, bà H1 vắng mặt, điều đó cho thấy bà H1 không mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nên có căn cứ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà H1 đã trầm trọng, hôn nhân có kéo dài cũng không hạnh phúc nên đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Có 04 con chung tên Dương Thị Hồng Q, sinh ngày 18/01/1982, Dương Thị Hồng N, sinh ngày 10/7/1984, Dương Hữu K, sinh ngày 02/5/1988 và Dương Hữu T, sinh ngày 20/4/1999. Hiện tại 04 con chung đã trưởng thành nên không xét đến.

Về tài sản chung: Ông Hiệp t thỏa thuận với bà H1 nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

Về nợ chung: Ông H khai không có nên không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Tòa án ghi nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Quan hệ tranh chấp giữa ông Dương Văn H và bà Phạm Thị H1 là tranh chấp về ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn bà Phạm Thị H1 có nơi cư trú tại xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tống đạt hợp lệ thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải nhưng bị đơn bà H1 vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án đã tiến hành lập biên bản không hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự và đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà H1 vẫn vắng mặt không có lý do mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà H1.

Nguyên đơn ông Dương Văn H có yêu cầu xét xử vắng mặt tại phiên tòa, do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông Dương Văn H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về hôn nhân: Ông Dương Văn H và bà Phạm Thị H1 tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre vào ngày 30/8/1996 nên hôn nhân của ông bà là hôn nhân hợp pháp. Ông H xác định nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do cả hai có bất đồng về quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau. Từ năm 2018 đến nay, vợ chồng ông H và bà H1 đã sống ly thân. Tại biên bản xác minh về tình trạng hôn nhân của Tòa án cũng xác định ông H và bà H1 đã ly thân được một thời gian dài. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần mở phiên hòa giải để hai bên hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng bà H1 không tham gia phiên hòa giải, điều đó cho thấy bà H1 không có thiện chí mong muốn vợ chồng đoàn tụ. Từ đó có cơ sở để xác định, mâu thuẫn vợ chồng giữa ông H và bà H1 đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nếu duy trì quan hệ hôn nhân này sẽ ảnh hưởng đến đời sống bình thường của các thành viên trong gia đình nên ly hôn là biện pháp tốt nhất cho cả hai. Do đó, căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông H. Ghi nhận ông Dương Văn H không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.

[3] Về con chung: Có 04 con chung tên Dương Thị Hồng Q, sinh ngày 18/01/1982, Dương Thị Hồng N, sinh ngày 10/7/1984, Dương Hữu K, sinh ngày 02/5/1988 và Dương Hữu T, sinh ngày 20/4/1999. Hiện tại 04 con chung đã trưởng thành nên không xét đến.

[4] Về tài sản chung: Ông Hiệp tự thỏa thuận với bà H1 nên không yêu cầu giải quyết.

[5] Về nợ chung: Ông H khai không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[6] Xét thấy, bà H1 vắng mặt, Tòa án không ghi nhận được ý kiến của bà H1 về phần con chung, tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét về vấn đề này.

[7] Về án phí: Ông H là người cao tuổi và có đơn miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn án phí theo quy định.

[8] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[9] Từ những nhận định nêu trên, xét đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành là có căn cứ nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng các Điều 56, 115 Luật Hôn nhân và gia đình;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ông Dương Văn H ly hôn với bà Phạm Thị H1. Ghi nhận ông Dương Văn H không yêu cầu về cấp dưỡng giữa vợ và chồng khi ly hôn.
  2. Về con chung: Có 04 con chung tên Dương Thị Hồng Q, sinh ngày 18/01/1982, Dương Thị Hồng N, sinh ngày 10/7/1984, Dương Hữu K, sinh ngày 02/5/1988 và Dương Hữu T, sinh ngày 20/4/1999. Hiện tại 04 con chung đã trưởng thành nên không xét đến.
  3. Về tài sản chung: Ông H thỏa thuận với bà H1 nên không yêu cầu giải quyết.
  4. Về nợ chung: Ông H khai nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
  5. Về án phí: Ông H là người cao tuổi và có đơn miễn tiền tạm ứng án phí, án phí nên được miễn án phí theo quy định.

Đương sự có mặt tại tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND huyện Châu Thành;
  • - Chi cục THADS huyện Châu Thành;
  • - Phòng GĐKT TAND tỉnh Bến Tre;
  • - UBND xã Tiên Long;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký tên và đóng dấu)

Trần Thị Ngọc Trâm

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/HNGĐ-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE về ly hôn

  • Số bản án: 36/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 03/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger