|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2024/KDTM-ST
Ngày: 01 - 8 - 2024
V/v tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Tố Uyên
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Công
- Bà Võ Thị Thu Thủy
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hà Giang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Năm – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thuận An xét xử sơ thẩm vụ án Kinh doanh thương mại thụ lý số 36/2024/TLST-KDTM ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2024/QĐXXST-KDTM ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 20/2024/QĐST-KDTM, ngày 15 tháng 7 năm 2022, giữa:
- Nguyên đơn: Công ty TNHH M; địa chỉ: Khu phố K, phường K, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Hsu, C - Pen; chức vụ: Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Vương Đức T, sinh năm 1986; địa chỉ: KM A, Quốc lộ A, phường B, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bị đơn: Công ty TNHH J.,LTD; địa chỉ: Khu Công nghiệp Đ, khu phố Đ, phường B, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện theo pháp luật: Ông CHANG, MING-TA - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện nộp tại Tòa án ngày 26/01/2024, các lời khai trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nguyên đơn trình bày:
Năm 2018, Công ty TNHH M (viết tắt là Công ty M) và Công ty TNHH J CO.,LTD (viết tắt là Công ty J) có giao dịch mua bán hàng hoá với nhau nhưng không lập hợp đồng mua bán do là chỗ bạn bè quen biết nhau từ lâu. Theo yêu cầu từ Công ty J, từ tháng 8/2018 đến tháng 11/2018, Công ty M đã cung cấp cho Công ty J 809.587 m³ gỗ thông xẻ (pine) có tổng giá trị là 9.648.702.140 đồng. Hai bên thoả thuận thời hạn thanh toán tiền hàng là 30 ngày kể từ ngày xuất hoá đơn VAT tương ứng với từng đợt giao hàng. Tuy nhiên, Công ty J chỉ mới thanh toán số tiền 3.012.653.220 đồng. Số tiền còn lại là 6.636.048.920 đồng chưa thanh toán. Mặc dù công ty M đã nhiều lần liên hệ, đôn đốc việc thanh toán nhưng Công ty J vẫn cố tình né tránh việc thanh toán nợ. Đến ngày 12/01/2024, giữa Công ty M và Công ty J đã ký xác nhận công nợ nhưng sau đó Công ty J vẫn cố tình né tránh không thanh toán tiền theo thoả thuận.
Nguyên đơn đã nhiều lần thông báo, liên hệ để bị đơn thực hiện việc thanh toán nhưng bị đơn cố tình né tránh nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc Công ty TNHH J CO.,LTD phải thanh toán số tiền 6.636.048.920 đồng.
- Buộc Công ty TNHH J CO.,LTD phải thanh toán tiền lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa vụ đối với số tiền chưa thanh toán tạm tính là 05 năm (từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/01/2024) với lãi suất 12%/năm, cụ thể: 6.636.048.920 đồng x 05năm x12%/năm = 4.047.989.841 đồng.
Tổng cộng số tiền Công ty TNHH M yêu cầu Công ty TNHH J CO.,LTD phải thanh toán tạm tính là 10.684.038.761 đồng.
Quá trình tố tụng, nguyên đơn thay đổi một phần yêu cầu khởi kiện về phần lãi suất chậm trả, nguyên đơn chỉ yêu cầu trả tiền lãi suất là 0.8%/tháng, tính từ ngày 30/6/2023 cho đến thời điểm xét xử.
Ngoài ra, nguyên đơn không yêu cầu gì khác.
Chứng cứ nguyên đơn cung cấp: Bản xác nhận công nợ; sao kê ngân hàng; phiếu EMS thông báo khởi kiện; giấy báo chuyển tiền về ngày 28/02/2020, ngày 31/3/2020, ngày 28/4/2020, ngày 07/7/2020, ngày 06/3/2023, ngày 21/3/2023 và ngày 30/6/2023; hóa đơn VAT số 0002326 ngày 29/8/2018, số 0002348 ngày 25/9/2018, số 0002405 ngày 26/10/2018, số 0002453 ngày 26/11/2018, kèm phiếu thông tin chuyển kho và các tài liệu khác có liên quan.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia tố tụng nhưng người đại diện theo pháp luật của Công ty vẫn không đến làm việc cũng như không ủy quyền cho ai đến Tòa án tham gia tố tụng và cũng không có văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Quá trình đưa vụ án ra xét xử, đại diện hợp pháp của nguyên đơn có đơn
yêu cầu xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện đã trình bày trong quá trình tố tụng.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thuận An trình bày:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng pháp luật tố tụng. Bị đơn không chấp hành đúng pháp luật do đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt không rõ lý do.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được Hội đồng xét xử xem xét, nhận thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên Tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về pháp luật tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán tiền mua hàng hóa còn nợ, đây là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá phát sinh trong hoạt động kinh doanh thương mại. Bị đơn có trụ sở đăng ký kinh doanh tại thành phố T, tỉnh Bình Dương nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương theo quy định tại Khoản 1, Điều 30 và Điểm a, Khoản 1, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.2] Về thủ tục tố tụng:
Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn có yêu cầu xét xử vắng mặt; bị đơn đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Nguyên đơn xác định quá trình mua bán hàng hóa, giữa nguyên đơn và bị đơn không lập hợp đồng mua bán mà trao đổi với nhau qua điện thoại. Đối chiếu giữa phiếu xuất kho được lập ngày 25/8/2024, 26/9/2018, 25/10/2018, 24/11/2018 và các Thông báo về việc thanh toán tiền hàng của Công ty J, có cơ sở xác nhận giữa nguyên đơn và bị đơn có xác lập quan hệ mua bán hàng hóa là gỗ thông xẻ pine. Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã cung cấp cho bị đơn tổng cộng 809.587 m³ gỗ thông xẻ (pine) có tổng giá trị là 9.648.702.140 đồng.
[2.2] Với yêu cầu khởi kiện về việc trả tiền hàng còn nợ, Hội đồng xét xử
xét thấy:
Theo Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/01/2024 có chữ ký, và dấu xác nhận của 02 bên công ty, thể hiện: Công ty J xác nhận còn nợ của Công ty M1 số tiền là 6.636.048.920 đồng. Qua so sánh, đối chiếu số tiền mà bị đơn còn nợ của nguyên đơn giữa Biên bản xác nhận công nợ ngày 12/01/2024 và Bản chi tiết hàng hóa cung cấp cho bị đơn cũng như phiếu thông tin chuyển khoản thanh toán tiền hàng của Công ty J là hoàn toàn phù hợp nhau. Như vậy, Công ty M1 khởi kiện yêu cầu Công ty J thanh toán số tiền 6.636.048.920 đồng là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp.
[2.3] Đối với yêu cầu tính lãi chậm trả:
[2.3.1] Về xác định ngày vi phạm:
Quá trình thực hiện hợp đồng, nguyên đơn và bị đơn không ký kết hợp đồng nên không xác định được thỏa thuận về việc thanh toán tiền hàng còn nợ. Tuy nhiên, căn cứ vào biên bản xác nhận công nợ ngày 30/6/2023, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi do chậm thanh toán tính từ ngày 30/6/2023 là có căn cứ chấp nhận.
[2.3.1] Về mức lãi suất:
Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán tiền lãi chậm trả tính từ ngày 30/6/2023 đến thời điểm khởi kiện với lãi suất 0.8%/tháng, cụ thể: 6.636.048.920 đồng x 0.8%/tháng x 13 tháng 01 ngày = 691.918.700 đồng.
Theo biên bản xác minh tại Ngân hàng N - chi nhánh T1, Ngân hàng TMCP C1, Ngân hàng TMCP N1 thì mức lãi suất cho vay bình quân của 3 ngân hàng là 15,5%/năm. Nguyên đơn yêu cầu mức lãi suất 9.6%/năm là không vượt quá mức lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.3] Từ những phân tích trên, xét thấy có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
[2.5] Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa về nội dung vụ án là có cơ sở, phù hợp quy định của pháp luật.
[2.6] Án phí:
Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận toàn bộ nên nguyên đơn không phải chịu án phí.
Bị đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm trên toàn bộ số tiền có nghĩa vụ phải thanh toán cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1, Điều 30; Điều 39; Điểm b, Khoản 2, Điều 227; Khoản 1, Điều 228; Điều 235; Điều 266; Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Điều 24, Điều 50, 55 và 306 của Luật Thương mại năm 2005;
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Công ty TNHH M đối với bị đơn Công ty TNHH J CO.,LTD về việc: “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hoá".
Buộc Công ty TNHH J CO.,LTD phải thanh toán cho Công ty TNHH M tổng số tiền 7.327.967.620 đồng, trong đó: Tiền nợ gốc là 6.636.048.920 đồng và nợ lãi 691.918.700 đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực thi hành và người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chưa thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ thì hàng tháng còn phải chịu khoản tiền lãi bằng mức lãi suất quy định tại Khoản 2, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
2. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
Bị đơn Công ty TNHH J CO.,LTD phải chịu 115.327.968 đồng.
Hoàn trả cho Công ty TNHH M số tiền tạm ứng án phí 59.342.019 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001714 ngày 19/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thuận An, tỉnh Bình Dương.
3. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án sơ thẩm hoặc niêm yết bản án theo quy định.
Trường hợp Bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7A và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Dương; Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa
- VKSND thành phố Thuận An;
- Chi cục thads thành phố Thuận An;
- Chánh án (để báo cáo);
- Các đương sự;
- Lưu: HS, AV.
|
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tố Uyên |
Bản án số 36/2024/KDTM-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Số bản án: 36/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/08/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THUẬN AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: mua hàng nhưng nợ tiền không trả
