Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ DUYÊN HẢI

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2024/DS-ST

Ngày: 01-8-2024

“V/v tranh chấp quyền sử

dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Tài

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phi Long

Ông Hà Văn Quen

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Chăm - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã

Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh

tham gia phiên tòa: Bà Kiên Thị Diệu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2022/TLST-DS ngày 07 tháng 10 năm 2022 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Trần Văn D, sinh năm 1950; (có mặt)

Địa chỉ: Khóm P, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn

Truyền T, là Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý

nhà nước tỉnh T. (có mặt)

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh H, sinh năm 1966; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Cao Thị Thu H1, sinh năm 1976; (có mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

2. Ông Trần Hữu Đ, sinh năm 1975; (có mặt)

Địa chỉ: Khóm B, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

3. Ông Phan Hồng S, sinh năm 1963; (xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 01/6/2022, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Trần Văn D trình bày:

Năm 2005 ông có nhận chuyển nhượng một thửa đất của ông Phan Hồng S, theo giấy tay mua bán đất thì chiều ngang phần đất ông nhận chuyển nhượng là 16 mét, chiều dài là 38,35 mét từ tim lộ đến hết đất của ông S. Khi mua đất thì thực địa đất hoang sơ, nhiều cây cối, lúc này hai bên chưa cặm trụ đá. Đến năm 2010 thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số thửa đất là 1494, tờ bản đồ số 11, ở ấp T, xã L, thị xã D, thửa đất ông được cấp giấy chứng nhận có chiều ngang giáp hương lộ 81 rộng 36 mét, chiều dài từ lộ vào là 36 mét. Giáp với đất của ông ở phía trong là đất của ông Nguyễn Thanh H. Ông D cho rằng khi làm thủ tục cấp giấy chứng nhận thì phía bị đơn Nguyễn Thanh H đã ký giáp ranh, hai bên đã cặm trụ đá để phân chia ranh giới, tuy nhiên quá trình sử dụng phía ông H có hành vi nhổ và dời trụ đá, cất nhà nuôi lươn, lấn chiếm vào thửa đất 1494 của ông D khoảng 05 mét chiều ngang, dài 15 mét. Tại phiên tòa ông yêu cầu ông H phải tháo dỡ hàng rào tol và trại nuôi lươn để trả lại phần đất có diện tích thực đo là 60,8m².

- Lời khai của bị đơn ông Nguyễn Thanh H thể hiện: Trước đây ông có một thửa đất nằm phía trong thửa đất của ông Phan Hồng S, do đất của ông S nằm giáp với Hương lộ 81 nhưng không có chiều hậu nên ông và ông S đã đổi đất với nhau, ông đã đổi cho ông S một liếp đất rộng hơn 09 mét, còn ông S đổi cho ông phần mặt tiền. Sau khi đổi đất thì ông S mới bán cho ông D một phần đất ngang 21 mét, dài hết đất. Theo ông H thì ông S bán cho ông D với chiều dài đất từ lộ tới hết đất, tức là hết phần đất mà ông H đã đổi cho ông S là ngay cây trụ đá hiện nay. Phần diện tích đất tranh chấp trước đây được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng cho ông Trần Văn D là do trong quá trình làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cán bộ địa chính đã làm sai, cấp chồng lấn vào đất của ông H. Còn việc ông D cho rằng ông H nhổ trụ đá ở ranh đất hoàn toàn không có, cây trụ đá này trước giờ vẫn ở vị trí cũ, ngay vị trí cách hàng rào tol khoảng 04 tất. Ông H không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông D vì thực tế ông không có lấn chiếm đất, mà phần đất này ông đã sử dụng từ năm 1990 đến nay, việc đất của ông nằm trong bằng khoán của ông D là do năm 2010 cán bộ địa chính làm sai, sau đó ông có đi gặp ông D và ông S để thông báo sự việc như vậy nhưng ông D không đưa bản gốc bằng khoán cho ông điều chỉnh lại.

- Lời khai của ông Phan Hồng S thể hiện: Trước đây ông có một thửa đất nằm cặp Hương lộ 81, thửa đất có chiều sâu từ lộ vào ngắn, lúc đó thửa đất này là một con mương chạy dài từ nhà của ông hiện nay đến ngã ba T. Nằm phía sau đất của ông là đất của ông Nguyễn Thanh H, do đất của ông H không có mặt tiền nên ông S với ông H đã thỏa thuận đổi đất với nhau, cụ thể là ông H đã đổi cho ông một liếp đất rộng 09 mét, còn ông S đổi cho ông H phần đất mặt tiền tính từ căn nhà của ông H trở qua bên trái (nhìn từ trong ra Hương lộ H). Sau khi đổi đất thì ông S mới bán cho ông D và nhiều người khác (ông H cũng có bán đất), đến năm 2010 để thuận tiện trong việc tách thửa thì ông S giao bằng khoán cho ông H đứng tên, sau đó ông H làm thủ tục tách thửa cho những người mua đất, trong đó có ông D. Phần đất ông S bán cho ông D là ngang 21 mét, dài hết đất, tức là phần đất ông H đổi cho ông S. Đối với nội dung trong văn bản “Giấy mua bán đất” thể hiện chiều dài 38,35 mét thì ông S cho rằng không đến 38 mét vì khi đo đất để bán cho ông D thì hai bên có cặm trụ đá chính là vị trí gần hàng rào của ông H hiện nay. Ngoài ra ông S còn cho biết là không phải ông H lấn đất của ông D mà là do trong quá trình ông H làm thủ tục tách thửa cho ông D thì cán bộ địa chính đã nhầm lẫn vì sau khi làm bằng khoán xong thì ông H có đến gặp ông S và ông D để thông báo là bằng khoán làm sai lấn qua đất của ông H.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Do ông S là người trực tiếp bán đất cho ông D, cần thiết phải có mặt ông S tại phiên tòa để làm rõ việc bán đất đến vị trí nào, do đó đề nghị Hội đồng xét xử tạm ngừng phiên tòa để xác minh và triệu tập ông S.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Hữu Đ có cùng ý kiến với ông Trần Văn D.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Cao Thị Thu H1 thống nhất ý kiến với bị đơn Nguyễn Thanh H.

- Ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về nội dung vụ án: Phần đất tranh chấp ông Nguyễn Thanh H sử dụng ổn định từ trước đến nay, ông H đã xây nhà nuôi lươn cách đây 05 năm, thời điểm làm nhà nuôi lươn này cũng không ai tranh chấp. Việc cấp giấy chứng nhận cho ông D bị chồng lấn vào đất của ông H là do nhầm lẫn trong quá trình tách thửa cho ông D vì sau khi ông D được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất 1494 thì ông H có đi thông báo cho ông D cũng như ông Phan Hồng S biết việc này, được ông S và ông D thừa nhận. Tại Công văn số 1095 ngày 01/7/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D cung cấp thông tin dữ liệu đất đai từ hồ sơ địa chính đối với diện tích đất tranh chấp Phần A diện tích 60,8m² thuộc thửa 1632, tờ bản đồ số 10 theo tài liệu đo đạc năm 2010, tức là không nằm trong thửa đất

của ông Trần Văn D. Từ những phân tích trên xét thấy yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D là không có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến, yêu cầu của đương sự; kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Phan Hồng S vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án vẫn tiến hành xét xử. Xét thấy ông S đã có lời khai trong vụ án, tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã công bố lời khai của ông S, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông D đề nghị tạm ngừng phiên tòa để xác minh và triệu tập ông S tham gia phiên tòa là không cần thiết.

[2] Về đối tượng tranh chấp: Tại đơn khởi kiện ngày 01/6/2022 ông Trần Văn D yêu cầu ông Nguyễn Thanh H trả phần đất diện tích 75m² (ngang 05m, dài 15m), thuộc thửa đất số 1494, tờ bản đồ số 11, đất tọa lạc ở ấp T, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Quá trình xem xét thẩm định tại chỗ, ông Trần Văn D chỉ ranh để cán bộ địa chính đo đạc, kết hợp với tra cứu tư liệu, xác định được phần đất tranh chấp có diện tích thực tế là 60,8m², thuộc thửa 1632, tờ bản đồ số 10 (bút lục số 115), đối với diện tích 3,2m² thuộc thửa 639, tờ bản số số 11, không có tranh chấp do nằm trong thửa đất 639 của ông Trần Văn D được cấp đổi giấy chứng nhận vào năm 2021, phần hàng rào tol và trại nuôi lươn của ông H cũng không nằm trong phần diện tích 3,2m² này.

[3] Lời khai của ông Phan Hồng S thể hiện có việc ông bán đất cho ông D là bán hết phần đất của ông bao gồm luôn phần đất đã đổi với ông H, ông S cũng khẳng định là có việc ông H thông báo cho ông và ông D về việc giấy chứng nhận cấp bị sai, chồng qua đất của ông H.

[4] Tại văn bản “Tờ tường trình” ghi ngày 17/3/2010 do ông H giao nộp cho Tòa án có nội dung: “...Vào ngày 28/8/2003 tôi có trao đổi với anh Phan Hồng S 1 thửa đất để thuận tiện canh tác có cắm móc và sự chứng kiến của chính quyền địa phương và có hồ sơ đo đạc kèm theo, nhưng lúc bây giờ đang vay nợ Ngân hàng nên cắt giấy không được. Sau đó 3 năm anh S đã bán 1 phần miếng đất đó và 1 phần đất của anh S liền kề cho anh Trương Văn D1 chiều ngang lộ 81 là 20 m, chiều sâu đất anh S là 22,1 m cùng với đất tôi là 9,4 m, tổng cộng là 31,5 m. Đến tháng 1 năm 2010 tôi trả nợ Ngân Hàng xong nhận QSDĐ về thì Luật đất đại thay đổi (không cấp đất dưới 1000 m²) nên không thể nào anh S phần đất ngang 20 m sâu 9,4 m của tôi để giao cho anh S để anh S bán cho anh D1 vì vậy anh S nhờ tôi cho nhập đất anh S vào đất tôi xong, và nhờ tôi cắt chuyển QSDĐ cho anh Trương Văn D1, nhưng khi đo đạc

giữa tim lộ đến cột móc ( đã có từ 28/8/2003) là 36 mét (chiều sâu) nhưng đến khi cắt cán bộ địa chính đã bị nhầm lẫn cắt 36 mét từ mép lộ vì vậy đã vượt cột móc 4,5 m...”. Văn bản này có xác nhận của ông Phan Hồng S.

[5] Lời khai của ông D1 tại bút lục số 60 cũng thể hiện sau khi ông D1 được cấp giấy chứng nhận của thửa đất 1494 thì khoảng 01 tháng sau ông H có đến gặp ông nói là địa chính làm sai, cấp giấy đỏ lấn qua đất của ông H, ông H nói nếu ông D1 muốn sử dụng thì phải trả tiền lại cho ông H với giá là 1.000.000 đồng/mét ngang, ông D1 mới nói là thời điểm tách thửa hai bên đã ký giáp ranh rồi, do không thỏa thuận được nên ông H đã đi về.

[6] Theo hồ sơ địa chính của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D cung cấp, thể hiện tháng 10/2021 ông Trần Văn D có đề nghị cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 116 - 121), thửa đất cũ là 1494, tờ 11, diện tích 441,3m², thửa đất mới là 639, tờ 11, diện tích 403,9m². Hồ sơ có biên bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất có chữ ký giáp ranh của ông Trần Văn D và ông Nguyễn Thanh H tại cạnh 1-4. Đối chiếu với sơ đồ khu đất ở bút lục số 115 thì phần đất tranh chấp 60,8m² ông D yêu cầu không nằm trong thửa 639 của ông D sau khi được cấp đổi, mà thuộc thửa 1632, tờ bản đồ số 10 của ông Nguyễn Thanh H, điều này thể hiện ông D đã có sự thừa nhận về ranh giới đất trên thực tế.

[7] Hiện trạng phần diện tích đất tranh chấp hiện nay có hàng rào bằng tol của ông H và ông H đã cất một nhà nuôi lươn từ năm 2019, thời điểm làm nhà nuôi lươn này cũng không có tranh chấp gì. Mặt khác, sự kiện ông H cho rằng việc cấp giấy chứng nhận cho ông D bị chồng lấn vào đất của ông H là có thật, được ông Trần Văn D thừa nhận và ông Phan Hồng S xác nhận đã xảy ra vào thời điểm năm 2010. Ông S cũng cho biết là phía sau hậu đất của ông hiện nay là đất của ông H nhưng cũng nằm trong giấy chứng nhận của ông S là do trước đây bị cấp chồng lấn, nhưng giữa ông S với ông H không có tranh chấp gì.

[8] Như vậy, qua lời khai của ông D, ông H và ông S và các tài liệu chứng cứ khác có thể thấy rằng sự việc giấy chứng nhận cấp cho ông Trần Văn D vào năm 2010 đối với thửa 1494, đã cấp chồng lấn qua đất của ông Nguyễn Thanh H là có thật, cùng với việc năm 2021 ông D đã đề nghị cấp đổi lại giấy chứng nhận từ thửa 1494 thành thửa 639, có ký giáp ranh với phần đất của ông H đang sử dụng, là đã trừ ra phần đất tranh chấp hiện nay.

[9] Từ những cơ sở phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử thấy rằng yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D là không có căn cứ chấp nhận, ông Nguyễn Thanh H được quyền tiếp tục sử dụng diện tích đất 60,8m², thuộc thửa đất số 1632, tờ bản đồ số 10, ở ấp T, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

[10] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu không được chấp nhận nên ông Trần Văn D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm nhưng ông D là người cao tuổi nên được miễn nộp.

[11] Về chi phí tố tụng gồm trích lục địa chính, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản tổng cộng là 5.443.000 đồng, do yêu cầu không được chấp nhận nên ông D phải chịu và đã nộp đầy đủ, ông D được nhận lại số tiền tạm ứng còn thừa là 315.000 đồng tại Văn phòng Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải.

[12] Xét quan điểm của Kiểm sát viên về nội dung vụ án là có căn cứ nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

- Các Điều 26, 35, 39, 147, 157, 165, 227, 244 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Các Điều 166 và 203 của Luật Đất đai năm 2013;

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn D.

2. Ông Nguyễn Thanh H được quyền tiếp tục sử dụng phần đất tranh chấp có diện tích thực tế là 60,8m², thuộc thửa đất số 1632, tờ bản đồ số 10, ở ấp T, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.

Đất có tứ cận, kích thước như sau:

  • - Hướng Đông giáp thửa 639, dài 15 mét;
  • - Hướng Tây giáp thửa 1632, dài 15 mét;
  • - Hướng Nam giáp thửa 640, dài 3,63 mét;
  • - Hướng Bắc giáp thửa 219, dài 4,46 mét.

Vị trí đất thuộc phần A trên sơ đồ khu đất của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thị xã D kèm theo bản án.

3. Về chi phí tố tụng là 5.443.000 đồng, ông Trần Văn D phải chịu và đã nộp đầy đủ. Trả lại cho ông D 315.000 đồng tiền tạm ứng chí phí tố tụng còn thừa.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn D.

5. Quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Trà Vinh;
  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - Viện KSND Tx. Duyên Hải;
  • - Chi cục THADS Tx. Duyên Hải;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Tài

HỘI THẨM NHÂN DÂN

Hà Văn Quen

 

Phạm Phi Long

THẨM PHÁN

CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Tài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2024/DS-ST ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 36/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger