|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 -NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 36 /HNGĐ - ST
Ngày 27/11/2025
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Quán Vi Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cù Văn Hùng.
2. Ông Lang Văn Hải
Thư ký phiên toà: Ông Trần Anh Quân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Trần Hoàng Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 93 /2025/TLST – HNGĐ ngày 15 tháng 10 năm 2025 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Lương Thị L, sinh năm 1985.
- Địa chỉ: Bản B, xã C, tỉnh Nghệ An.
- (Có đơn xin vắng mặt).
- - Bị đơn: Anh Vi Văn C, sinh năm 1981
- Địa chỉ: Bản B, xã C, tỉnh Nghệ An.
- (Có đơn xin văng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn xin ly hôn và tại bản tự khai, biên bản lấy lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Lương Thị L trình bày:
Về hôn nhân: Chị Lương Thị L và anh Vi Văn C đăng ký kết hôn ngày 21/09/2018 tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã C, tỉnh Nghệ An). Quá trình sống chung do vợ chồng tính tình không hợp nhau nên thường xuyên mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng rạn nứt, không thể hòa thuận được. Chị Lương Thị L và anh Vi Văn C đã ly thân từ tháng 12 năm 2023 đến nay. Khi ly thân anh, chị cũng đã cố gắng hòa giải để trở về đoàn tụ với nhau, tuy nhiên do mâu thuẫn quá trầm trọng nên anh, chị không thể trở về hàn gắn được. Chị Lương Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Vi Văn C.
Về con chung: Chị Lương Thị L và anh Vi Văn C có một con chung là Vi Tuấn S, sinh ngày 03/9/2018. Nếu ly hôn thì chị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chồng cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Lương Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Vi Văn C có trình bày ý kiến như sau:
Về hôn nhân: Anh Vi Văn C và chị Lương Thị L đăng ký kết hôn ngày 21/09/2018 tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã C, tỉnh Nghệ An). Quá trình sống chung vợ chồng tính tình không hợp nhau nên vợ chồng thỉnh thoảng có va chạm nhỏ, không có mâu thuẫn gì lớn. Chị Lương Thị L đi làm công nhân ở công ty, để anh ở nhà chăm sóc và nuôi con, vài ba tháng chị Lương Thị L về nhà với bố con anh, cuộc sống vợ chồng vẫn bình thường. Chị L yêu cầu Tòa án giải quyết thì anh Vi Văn C không đồng ý ly hôn với chị với chị Lương Thị L.
Về con chung: Anh Vi Văn C và chị Lương Thị L có một con chung là Vi Tuấn S, sinh ngày 03/9/2018. Nếu ly hôn, anh Vi Văn C xin được nuôi và không yêu cầu vợ cấp dưỡng nuôi con. Chị Lương Thị L có nguyện vọng trực tiếp nuôi con thì anh Vi Văn C không đồng ý giao con cho chị L nuôi con vì con từ khi sinh ra đến nay do một mình anh C trực tiếp nuôi dưỡng.
Về tài sản: Anh Vi Văn C không yêu cầu giải quyết tài sản chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Nghệ An phát biểu ý kiến:
Qua kiểm sát giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi đưa vụ án ra xét xử và tại phiên tòa thấy rằng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, nguyên đơn, bị đơn đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng vào Điều 56; các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Lương Thị L được ly hôn anh Vi Văn C;
Về con chung: Giao con chung là Vi Tuấn S, sinh ngày 03/9/2018 cho chị Lương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục kể từ tháng 11 năm 2025 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi, trưởng thành; Tạm hoãn cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Văn C là hợp lý.
Về tài sản: Chị Lương Thị L, anh Vi Văn C không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét;
Về án phí: Chị Lương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Lương Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Vi Văn C, yêu cầu về giao nuôi con. Vì vậy, quan hệ pháp luật tranh chấp cần giải quyết trong vụ án này được xác định là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn là anh Vi Văn C có đăng ký hộ khẩu thường trú tại bản B, xã C, tỉnh Nghệ An nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 – Nghệ An theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Tại phiên toà, chị Lương Thị L và anh Vi Văn C xin vắng mặt. Do đó căn cứ vào khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt chị Lương Thị L và anh Vi Văn C.
[3] Về hôn nhân: Chị Lương Thị L và anh Vi Văn C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 21/09/2018 tại UBND xã C, huyện Q, tỉnh Nghệ An (Nay là UBND xã C, tỉnh Nghệ An). Hôn nhân của chị Lương Thị L và anh Vi Văn C đảm bảo về điều kiện kết hôn và đúng nghi thức theo quy định của pháp luật nên là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị sống chung không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hai vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2024 đến nay. Quá trình giải quyết, Toà án tiến hành hoà giải anh Vi Văn C không đồng ý ly hôn chị Lương Thị L, tuy nhiên chị Lương Thị L vẫn một mực giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn anh Vi Văn C. Xét thấy mâu thuẫn của vợ chồng thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, cần giải quyết cho chị Lương Thị L được ly hôn anh Vi Văn C.
[5] Về con: Nếu ly hôn, chị Lương Thị L và Vi Văn C đều có nguyện vọng nuôi con, thấy rằng: Căn cứ vào nguyện vọng của hai bên đương sự, xét điều kiện của các đương sự để nuôi con phát triển lành mạnh thể chất, trí tuệ nên cần giao con chung là Vi Tuấn S, sinh ngày 03/9/2018 cho chị Lương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng kể từ tháng 11 năm 2025, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành); Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Văn C là hợp lý.
[6] Về tài sản: Chị Lương Thị L và anh Vi Văn C không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét thêm.
[7] Về án phí: Chị Lương Thị L phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 35 (Luật số 85/2025/QH15 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hành chính, Luật tư pháp người chưa thành niên, Luật phá sản và Luật hoà giải, đối thoại tại Toà án); khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 227; khoản 1 điều 228; Điều 238; khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
Về hôn nhân: Cho chị Lương Thị L được ly hôn anh Vi Văn C.
Về con: Giao con chung là Vi Tuấn S, sinh ngày 03/9/2018 cho chị Lương Thị L trực tiếp nuôi dưỡng, kể từ tháng 11 năm 2025, cho đến khi con chung đủ 18 tuổi (trưởng thành); Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh Vi Văn C. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Vì lợi ích mọi mặt của con chung; khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
Về án phí: Chị Lương Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng. Được khấu trừ số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn) đồng chị Lương Thị L đã nộp tiền tạm ứng án phí theo biên lai số: 0001356 ngày 15 tháng 10 năm 2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.
Quyền kháng cáo: Vụ án xét xử sơ thẩm công khai vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Quán Vi Tuấn |
Bản án số 36/HNGĐ - ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 36/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 - NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn Lương Thị L - Vi Văn C
