|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HS-ST
Ngày: 07/03/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Phượng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hải Đương; Bà Phạm Thị Lan.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hà Linh - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hưng Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Kiên Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 07/03/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 25/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 05/02/2025 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Thành L, sinh năm 1989, tại tỉnh Hưng Yên; giới tính: nam; HKTT: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên; nơi ở hiện tại: Tổ dân phố L, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không. Trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn L1 và bà Lương Thị T; có vợ là Nguyễn Thu H; có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2022. Tiền án, tiền sự: không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Ông Phạm Quang L2, sinh năm 1977; trú tại: đường N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1971; trú tại: thôn Y, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1996; trú tại: thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên.
- Anh Nguyễn Văn Q, sinh năm 1991; trú tại: khu B, TDP P, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên.
(Tất cả đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành L là lao động tự do, do có nhiều người hỏi vay tiền nên đã nảy sinh ý định cho vay với lãi suất cao để tăng thu nhập. Từ ngày 05/12/2023 đến 05/12/2024, tại phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, L đã cho 03 người vay tổng cộng 105.000.000 đồng với lãi suất từ 3.000 đến 4.000 đồng/1 triệu đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm và 146%/năm, cao gấp 5,475 và 7,3 lần mức lãi suất tối đa theo Điều 468 Bộ luật Dân sự). Đến ngày 05/12/2024 (thời điểm cơ quan chức năng phát hiện), tổng tiền lãi theo thỏa thuận là 61.710.000 đồng, trong đó số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận mà L phải chịu trách nhiệm hình sự là 50.285.343 đồng. Tuy nhiên, do bị phát hiện nên L thực tế chỉ thu được 58.430.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền lãi bất hợp pháp thực tế đã thu là 33.813.562 đồng, cụ thể:
Ngày 05/12/2023, L cùng Nguyễn Văn Q góp vốn mỗi người 15.000.000 đồng cho ông Phạm Quang L2 vay tổng cộng 30.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ngày. Mỗi tháng ông L2 trả 2.700.000 đồng tiền lãi, tổng cộng 12 tháng đã trả 32.400.000 đồng. L chia lại cho Q một nửa, tức mỗi người hưởng 16.200.000 đồng. Theo quy định, lãi hợp pháp tối đa trong 12 tháng là 6.016.438 đồng, do đó số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận là 26.383.562 đồng, trong đó L thực tế đã thu 13.191.781 đồng.
Ngày 09/6/2024, L cho ông Nguyễn Văn Á vay 60.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ngày, không yêu cầu thế chấp tài sản. Đến ngày 09/10/2024, ông Á đã trả 4 tháng tiền lãi là 21.600.000 đồng và 30.000.000 đồng tiền gốc, còn nợ tiếp 30.000.000 đồng với lãi suất như cũ. Tính đến ngày 05/12/2024, ông Á trả thêm 2.700.000 đồng tiền lãi. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 26.640.000 đồng, trong khi lãi hợp pháp tối đa là 4.947.945 đồng. Như vậy, số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận là 21.692.055 đồng, trong đó L thực tế đã thu 19.352.055 đồng.
Ngày 07/10/2024, anh Phạm Văn H1 cầm cố xe Honda AirBlade BKS: 89E1 - 682.60 tại cửa hàng V của Nguyễn Văn Q để vay tiền. Do Q hết tiền, L đồng ý nhận cầm cố xe và cho vay 15.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ngày. Đến ngày 16/10/2024, anh H1 chuộc xe và trả 15.600.000 đồng (gồm 15.000.000 đồng tiền gốc và 600.000 đồng tiền lãi cho 10 ngày với lãi suất 4.000 đồng/1 triệu/ngày). Ngày 19/10/2024, anh H1 tiếp tục vay 15.000.000 đồng từ L với lãi suất 3.000 đồng/1 triệu/ngày, L giữ lại xe và nhờ Q cất hộ đăng ký xe. Đến ngày 05/12/2024, anh H1 đã trả 1.130.000 đồng tiền lãi, còn nợ 220.000 đồng. Tổng số tiền lãi theo thỏa thuận là 2.670.000 đồng, trong khi lãi hợp pháp tối đa là 460.274 đồng. Như vậy, số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận là 2.209.726 đồng, trong đó L thực tế đã thu 1.269.726 đồng.
Tổng số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận là 50.285.343 đồng, trong khi số tiền lãi bất hợp pháp thực tế thu được là 33.813.562 đồng.
Ngày 05/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh H tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thành L tại TDP L, phường P, thị xã M, tỉnh Hưng Yên. Kết quả khám xét không thu giữ tài sản, đồ vật hay tài liệu liên quan. Ngày 24/12/2024, L tự nguyện nộp 3.000.000 đồng vào tài khoản số [...] của Ngân hàng TMCP C, Chi nhánh H2 – tài khoản tạm gửi của Công an tỉnh H để khắc phục hậu quả.
Trong quá trình làm việc với Cơ quan điều tra, L tự nguyện giao nộp một quyển vở ghi chữ “Happy Campus”, bên trong có ba trang giấy ghi chữ và số tự nhiên. L khai đây là sổ ghi chép thông tin người vay, số tiền vay, lãi suất vay và quá trình trả lãi. Theo Kết luận giám định số 450 ngày 25/12/2024 của Phòng K Công an tỉnh H, chữ viết và chữ số trên quyển sổ do L giao nộp trùng khớp với chữ viết và chữ số của Nguyễn Thành L trên mẫu so sánh, xác định do cùng một người viết ra.
Làm việc với Cơ quan điều tra, những người vay tiền đều khai nhận số tiền vay được sử dụng vào mục đích hợp pháp. Đối với số tiền lãi bất hợp pháp mà L đã thu, cả ba người vay là anh Phạm Văn H1, anh Nguyễn Văn Á và ông Phạm Quang L2 đều không yêu cầu L phải hoàn trả.
Ngày 22/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên ban hành Cáo trạng số 35/CT-VKS-P3, truy tố Nguyễn Thành L về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Nguyễn Thành L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội. Bị cáo xác định số tiền 15.000.000 đồng anh H1 trả nợ cho bị cáo ngày 16/10/2024 đã được bị cáo sử dụng cho anh H1 vay vào ngày 19/10/2024.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên trình bày luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Áp dụng: khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L từ 09 đến 12 tháng cải tạo không giam giữ, miễn khấu trừ thu nhập và không phạt bổ sung đối với bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị về biện pháp tư pháp và án phí. Bị cáo không tranh luận với ý kiến luận tội; đề nghị được hưởng mức án thấp nhất.
Bị cáo nhất trí, không tranh luận với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát và đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo khai báo tự nguyện, không bị ép cung, nhục hình và không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo:
Lời khai của bị cáo Nguyễn Thành L tại phiên tòa và trong quá trình điều tra thống nhất với nhau, đồng thời phù hợp với lời khai của những người đã vay tiền và các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án.
Đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 05/12/2023 đến ngày 05/12/2024, tại phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thành L đã cho 03 người vay tổng số tiền 105.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng và 4.000 đồng/1 triệu đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm và 146%/năm, cao gấp 5,475 và 7,3 lần mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự). Số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận L phải chịu trách nhiệm hình sự là 50.285.343 đồng. Tuy nhiên, ngày 05/12/2024, hành vi cho vay lãi nặng của L bị Công an tỉnh H phát hiện, thực tế L mới thu được 58.430.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền lãi bất hợp pháp đã hưởng là 33.813.562 đồng.
Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, ý thức được việc cho vay lãi nặng bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích lợi nhuận, bị cáo đã thực hiện hành vi cho người khác vay tiền với lãi suất cao gấp 5,475 và 7,3 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại khoản 1 Điều 468 của Bộ luật Dân sự, thu lợi bất chính số tiền 33.813.562 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên truy tố bị cáo Nguyễn Thành L về tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự, quy định tại khoản 1 Điều 201 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3]. Về tính chất hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ và xâm phạm lợi ích của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu về tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, cần áp dụng hình phạt tương ứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4]. Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân:
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo tự nguyện nộp số tiền 3.000.000 đồng vào tài khoản tạm gửi của Công an tỉnh H để khắc phục hậu quả nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
-Về đặc điểm nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
[4] Về hình phạt chính:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xét thấy cần áp dụng hình phạt chính là phạt cải tạo không giam giữ để cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm.
Bị cáo và gia đình có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, được UBND xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên xác nhận nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền và miễn khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
[5] Về biện pháp tư pháp:
5.1 Đối với 01 quyển vở ghi chữ “Happy Campus” bên trong có 3 trang giấy ghi chữ và số tự nhiên (L khai ghi chép tên người vay, số tiền vay, lãi suất vay, trả lãi) là vật chứng chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án.
5.2 Đối với khoản tiền gốc và tiền lãi đến 20%, đây là phương tiện phạm tội và tiền do phạm tội mà có nên sẽ tịch thu, sung vào ngân sách nhà nước; đối với khoản tiền lãi trên 20% mà bị cáo đã thu được, đây là tài sản thuộc sở hữu của những người vay, những người này đều không yêu cầu bị cáo trả lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Cụ thể các khoản phải tịch thu, sung vào ngân sách là:
- Thu của bị cáo số tiền gốc đã nhận: 30.000.000 đồng (nhận lại từ ông Nguyễn Văn Á) và thu của bị cáo số tiền lãi đến 20% thực tế đã nhận: 8.416.000 đồng. Tổng cộng là 38.416.000 đồng. Do bị cáo đã nộp trước 3.000.000 đồng nên số tiền còn phải thu là 35.416.000 đồng.
- T1 của người vay số tiền gốc chưa trả: 60.000.000 đồng (gồm 15.000.000 đồng từ ông Phạm Quang L2, 30.000.000 đồng từ ông Nguyễn Văn Á và 15.000.000 đồng từ anh Phạm Văn H1).
[6] Về án phí: Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Về tội danh và hình phạt:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thành L phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.
Áp dụng khoản 1 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thành L 09 (chín) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn tính từ ngày Cơ quan Thi hành án hình sự - Công an tỉnh H nhận được Bản án và Quyết định Thi hành án.
Giao bị cáo cho UBND xã H, huyện T, tỉnh Hưng Yên quản lý, giám sát trong thời gian thi hành án.
[2]. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
2.1. Về vật chứng: Tiếp tục lưu tại hồ sơ vụ án 01 quyển vở ghi chữ "Happy Campus".
2.2. Tịch thu và truy thu tiền sung vào ngân sách nhà nước đối với bị cáo và các cá nhân cụ thể như sau:
- Bị cáo Nguyễn Thành L số tiền là 35.416.000 đồng (Ba mươi lăm triệu bốn trăm mười sáu nghìn đồng).
- Ông Phạm Quang L2, sinh năm 1977; trú tại: Đường N, phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên số tiền 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
- Ông Nguyễn Văn Á, sinh năm 1971; trú tại: thôn Y, phường N, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, số tiền là 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng).
- Anh Phạm Văn H1, sinh năm 1996; trú tại: thôn Đ, xã P, huyện V, tỉnh Hưng Yên, số tiền là 15.000.000 đồng (Mười lăm triệu đồng).
[3]. Án phí: Bị cáo Nguyễn Thành L phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, người có mặt được tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Phượng |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 07/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 05/12/2023 đến ngày 05/12/2024, tại phường B, thị xã M, tỉnh Hưng Yên, Nguyễn Thành L đã cho 03 người vay tổng số tiền 105.000.000 đồng với lãi suất 3.000 đồng và 4.000 đồng/1 triệu đồng/ngày (tương đương 109,5%/năm và 146%/năm, cao gấp 5,475 và 7,3 lần mức lãi suất tối đa theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự). Số tiền lãi bất hợp pháp theo thỏa thuận L phải chịu trách nhiệm hình sự là 50.285.343 đồng. Tuy nhiên, ngày 05/12/2024, hành vi cho vay lãi nặng của L bị Công an tỉnh H phát hiện, thực tế L mới thu được 58.430.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền lãi bất hợp pháp đã hưởng là 33.813.562 đồng.
