|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HSST Ngày 06/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Minh Tuấn
Ông Phí Văn Chân.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân, Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Bà Nguyễn Thị Huyên, Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 30/2025/TLST-HS, ngày 18/02/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 28/2025/QĐ-TA ngày 20/02/2025 đối với bị cáo:
Họ tên: Nguyễn Văn T, sinh năm 1997 tại Nam Định; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Thôn T, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: Số D đường H, tổ dân phố số A, phường P, quận B, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do Họ và tên cha: Nguyễn Văn N, sinh năm 1975; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Họ và tên mẹ: Hoàng Thị N1, sinh năm 1978; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Vợ: Đặng Thị L, sinh năm 2000; Có 02 con (Con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023); Tiền án, tiền sự: Không; D chỉ bản số 26 do Công an quận B lập ngày 25/12/2024; Bị bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, tạm giữ ngày 17/12/2024, huỷ bỏ biện pháp tạm giữ ngày 25/12/2024; Hiện bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Anh Nguyễn Công T1, sinh năm 2004; Nơi thường trú: B, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; Nơi ở hiện nay: Số G L, phường M, quận N, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa;
- Anh Ma Thế C, sinh năm 2001; Nơi thường trú: Bản Lếch, xã B, huyện C, tỉnh Tuyên Quang; Nơi ở hiện nay: Số G, ngõ D H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
2
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T đã xem video hướng dẫn thủ đoạn lừa đảo bằng hình thức thực hiện việc chuyển tiền ngân hàng nhưng cố tình nhập sai tên ngân hàng để buộc phải chuyển tiền thủ công sau đó nhập tên người nhận và thực hiện chuyển tiền trên mạng xã hội (Nếu tên người nhận tiền và số tài khoản là đúng nhưng sai tên ngân hàng thì việc chuyển tiền vẫn được diễn ra và sau vài ngày tiền sẽ được hoàn về tài khoản gốc do tài khoản nhận tiền không tồn tại). Bị cáo đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tài sản là điện thoại di động để sử dụng thông qua việc mua điện thoại với thủ đoạn trên. Bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
- Ngày 12/12/2024, bị cáo lên mạng tìm thấy bài đăng rao bán điện thoại Iphone 14 promax màu tím, 256Gb của anh Nguyễn Công T1 nên đã để lại số điện thoại 0367349xxx để anh T1 liên hệ. Sau đó, anh T1 sử dụng số điện thoại 0789358xxx gọi cho bị cáo thoả thuận bán chiếc điện thoại Iphone 14 promax màu tím nêu trên với giá 18.900.000 đồng. Bị cáo đồng ý và bảo anh T1 giao điện thoại cho bị cáo đến khu đô thị G city, A Hồ T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Khoảng 22 giờ 30 cùng ngày, tại khu vực tòa nhà S, khu đô thị G city, anh T1 gặp bị cáo để giao điện thoại. Sau khi nhận điện thoại, bị cáo thực hiện chuyển số tiền 18.900.000 đồng tới số tài khoản 102876769376 Ngân hàng V của anh T1 nhưng cố tình nhập sai ngân hàng là A. Khi chuyển tiền thành công, bị cáo giơ màn hình chuyển tiền thành công cho anh T1 xem. Anh T1 chụp lại màn hình điện thoại thể hiện việc chuyển tiền của bị cáo nhưng không để ý tên phần tên ngân hàng rồi kiểm tra tài khoản của mình thấy chưa nhận được tiền thì bị cáo bảo yêu tâm vì tài khoản của bị cáo đã bị trừ tiền nên anh T1 tin tưởng và rời đi. Chiếc điện thoại này, bị cáo mang về tặng cho vợ là chị Đặng Thị L. Ngày hôm sau, anh T1 không thấy tiền chuyển vào tài khoản của mình nên đã kiểm tra thì phát hiện bị cáo chuyển tiền sai tên ngân hàng. Anh T1 gọi điện cho bị cáo nhưng bị cáo trốn tránh rồi chặn liên lạc với anh T1 nên ngày 16/12/2024, anh T1 đến công an phường P trình báo.
- Khoảng 10h ngày 14/12/2024, bị cáo sử dụng tài khoản Zalo Huyền Trang liên hệ với tài khoản Zalo “Bet buy shop Hà Nội” đặt mua chiếc điện thoại Iphone 16 promax màu vàng trị giá 34.200.000 đồng, hẹn giao dịch tại vỉa hè lối đi vào đường đôi khu vực tòa nhà S khu đô thị G city, A Hồ T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội. Đến khoảng gần 22h cùng ngày, tại nơi hẹn, bị cáo gặp người bán điện thoại là anh Ma Thế C. Anh C đưa cho bị cáo chiếc điện thoại Iphone 16 promax màu vàng sa mạc mới, nguyên hộp, nguyên niêm phong và đưa số tài khoản 941688888888 tại ngân hàng T2 của anh C để bị cáo chuyển tiền. Bị cáo chuyển tiền đến số tài khoản của anh C1 nhưng không chọn ngân hàng T2 nhưng vẫn được báo chuyển khoản thành công. Anh C báo tài khoản của anh chưa nhận được tiền thì bị cáo nói có gì cứ gọi điện cho bị cáo. Anh C tin tưởng bị cáo nên đi về. Sau đó, anh C phát hiện tiền chưa về tài khoản nhưng không liên lạc được với
3
bị cáo và biết bị lừa. Tối ngày 16/12/2024, anh C đến khu vực tòa nhà S – Goldmark city tìm được bị cáo và đến Công an phường P trình báo. Vật chứng thu giữ gồm: 01 chiếc điện thoại Iphone 14promax màu tím và 01 chiếc điện thoại Iphone 16promax màu vàng (Do chị L, vợ bị cáo giao nộp); 01 chiếc điện thoại hiệu Redmi màu xanh lắp sim thuê bao số 0367349xxx của bị cáo T.
Tại Kết luận định giá tài sản số 1035/KL-ĐGTS ngày 31/12/2024, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận B kết luận: Chiếc điện thoại Iphone 14promax màu tím, 256GB trị giá 15.000.000 đồng; Chiếc điện thoại Iphone 16promax màu vàng, 256GB trị giá 28.000.000 đồng; Tổng giá trị tài sản là 43.000.000 đồng.
Ngày 05/02/2025, cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trao trả chiếc điện thoại Iphone 14 promax màu tím cho anh Nguyễn Công T1, chiếc điện thoại Iphone 16 promax màu vàng cho anh Ma Thế C. Anh T1 và anh C đã nhận lại tài sản và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về dân sự: Anh T1 không có yêu cầu gì về dân sự. Anh C yêu cầu bị cáo bồi thường 1.500.000 đồng giá trị chiếc điện thoại bị giảm sút do bị bóc niêm phong. Bị cáo đã bồi thường cho anh C, anh C đã nhận tiền, không có yêu cầu gì khác.
Chị Đặng Thị L, vợ bị cáo, được bị cáo tặng điện thoại iPhone promax màu tím nhưng không biết là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
Tại Bản cáo trạng số 29/CT-VKS, ngày 12/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T mức án từ 15 đến 20 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 30 - 40 tháng; Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo; Tịch thu sung quỹ 01 chiếc điện thoại hiệu Redmi màu xanh lắp sim thuê bao số 0367349xxx đã qua sử dụng; Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
4
[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên Cơ quan Cảnh sát điều tra, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm trong quá trình điều tra, truy tố: Các hành vi, quyết định tố tụng được thực hiện theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục, đúng các quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại, tố cáo về quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó quyết định, hành vi tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này là hợp pháp.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đủ căn cứ xác định: Trong các ngày 12 và 14/12/2024, tại khu đô thị G mart city, A Hồ T, phường P, quận B, thành phố Hà Nội, bị cáo Nguyễn Văn T dùng thủ đoạn gian dối (Khi thanh toán tiền mua hàng hóa là điện thoại di động vào tài khoản của người bán hàng, đã cố tình nhập sai tên ngân hàng để người bán tưởng bị cáo đã chuyển tiền thành công) để chiếm đoạt tài sản của người bán hàng là 01 điện thoại Iphone 14 promax màu tím, 256GB trị giá 15.000.000 đồng của anh Nguyễn Công T1 và 01 điện thoại Iphone 16promax màu vàng, 256GB trị giá 28.000.000 đồng của anh Ma Thế C. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt áp dụng đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được luật hình sự bảo vệ. Bị cáo đã dùng thủ đoạn gian dối, tạo lòng tin cho bị hại đối với mình để chiếm đoạt tài sản của họ. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân nên bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
[4] Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
4.1. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- Bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại Ma Thế C; thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối lỗi và tự nguyện bồi thường thiệt hại cho bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
- Bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu vi phạm pháp luật. Những người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo là lao động chính duy nhất trong gia đình. Bị cáo có hai con nhỏ (Con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023), con thứ hai của bị cáo bị bệnh nặng từ khi sơ sinh do suy tuyến yên, viêm màng não do adenovirus nên để lại di chứng chậm phát triển tâm thần và suy dinh dưỡng nặng do thiếu protein – năng lượng không đặc hiệu nên vợ bị cáo phải trông nom chăm sóc con, không đi làm được. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.
5
4.2. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo hai lần thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài tài sản nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội từ hai lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
5.1 Hình phạt chính: Xét hành vi phạm tội, tính chất tội phạm, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy, bị cáo được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ, chưa từng có hành vi vi phạm pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng, không cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tù có điều kiện, cho bị cáo hưởng án treo giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú theo dõi, quản lý, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách cũng đủ tác dụng giáo dục bị cáo.
5.2. Hình phạt bổ sung: Bị cáo không có việc làm, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền với bị cáo.
[6] Về các vấn đề khác
6.1. Về dân sự: Những người bị hại, anh T1, anh C đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho anh C 1.500.000 đồng thiệt hại do giá trị tài sản bị giảm sút và không có yêu cầu gì khác về dân sự nên không xét.
6.2. Về vật chứng: Chiếc điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh lắp sim thuê bao số 0367349624 đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo, được bị cáo dùng để liên lạc với bị hại, là phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, liên quan đến tội phạm và có giá trị sử dụng, cần tịch thu sung công quỹ.
6.3. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
2. Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 174; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điểm g khoản 1 Điều 51; Điều 65; Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Các điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
3. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời hạn thử thách 30 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường P, quận B, thành phố Hà Nội giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
6
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trường hợp bị cáo T thay đổi nơi cư trú trong thời hạn thử thách của án treo thì thực hiện theo quy định tại Điều 95 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Về các vấn đề khác
4.1. Về vật chứng: Tịch thu sung quỹ một điện thoại nhãn hiệu Redmi màu xanh lắp sim thuê bao số 0367349xxx đã qua sử dụng. Chi tiết vật chứng theo Biên bản giao nhận vật chứng số 119/25 ngày 18/02/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm.
4.2. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4.3. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Loan |
Bản án số 36/2025/HSST ngày 06/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 36/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Văn T đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt 02 điện thoại Iphone trị giá 43.000.000 đồng tại khu ĐT GMC, phường P, quận B, thành phố Hà Nội
