Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THÁI BÌNH

Bản án số: 36/2025/HSPT

Ngày 14/3/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Hằng

Các Thẩm phán:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Hiền
  2. Bà Nguyễn Thị Minh Huệ

-Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thao –Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa:bà Bùi Thị Thúy Hằng- Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2025/TLPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31 /2025/QĐXXPT-HS ngày 28/02/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình.

1. Bị cáo kháng cáo:

Nguyễn Văn T, sinh năm 1984. Nơi cư trú: Thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P (đã chết) và bà Lê Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền sự: không; tiền án: không.

Nhân thân: Ngày 27/3/2006 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính phạt tiền 500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”. Ngày 29/7/2011 bị Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Thái Bình áp dụng biện pháp đưa vào trung tâm cai nghiện bắt buộc với thời hạn 12 tháng theo Quyết định số 2137 ngày 29/7/2011.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 04/7/2024 được thay thế bằng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.

Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 25/6/2024, tại lán trông coi vịt do Đỗ Văn L quản lý thuộc địa phận thôn K, xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình. Đỗ Văn L cùng với Nguyễn Quyết C, Đỗ Văn T1, Đặng Văn M, Hà Duy M1, Nguyễn Văn T cùng rủ nhau đánh bạc ăn tiền bằng hình thức đánh liêng. C ra quán tạp hóa Thủy D mua một bộ bài tú lơ khơ 52 quân để mọi người đánh bạc. Sau đó L, C, T, T1, Đặng Văn M, Hà Duy M1 ngồi dưới chiếu có sẵn dưới nền lán để đánh bạc, cách thức chơi như sau: vào gà là 20.000 đồng, mức tố cao nhất là 100.000 đồng, nếu ai được sáp (ba quân bài cùng hàng) hoặc đồng hoa (ba quân bài liền nhau cùng chất) thì mỗi người còn lại phải nộp số tiền tương ứng là 100.000 đồng và 50.000 đồng. Các đối tượng chơi được khoảng 10 phút thì có Lương Ngọc T2 và Lương Duy C1 đến tham gia đánh bạc cùng. Đến 14 giờ 30 phút, T2 không đánh bạc nữa và đi về trước, khoảng 18 giờ 30 phút Trìu quay lại tiếp tục đánh bạc, lúc này mọi người rủ nhau chuyển sang đánh bạc bằng hình thức đánh ba cây, C1 không chơi ba cây nên đi về. Liêm, C, T1, T, Đặng Văn M, Hà Duy M1 và T2 tiếp tục đánh bạc với quy định như sau: Sử dụng 36 quân bài trong bộ bài tú lơ khơ 52 quân sau khi đã bỏ đi các quân bài 10,J,Q,K; mỗi người chơi sẽ được chia 03 quân bài, mức cá cược quy định tiền cược mỗi ván thấp nhất là 50.000 đồng, ai được 10 điểm thì cầm chương, những người còn lại sẽ đánh tính điểm với người cầm chương. Nếu người chơi có số điểm cao hơn chương thì thắng cược và ngược lại nếu có điểm thấp hơn thì sẽ mất tiền cược, nếu có điểm bằng nhau thì tính theo chất trong bài theo thứ tự Cơ, R, T3, B. Người cầm chương phải trả tiền cho người thắng cược và nhận về tất cả tiền cược của người thua mình, nếu ai cầm chương được 10 điểm, sáp, đồng hoa thì được lần lượt nhân 2, 3, 4 lần số tiền cược của những người còn lại và ngược lại, nếu người chơi nào được 10 điểm, sáp, đồng hoa thì được lần lượt nhân 2, 3, 4 lần số tiền cược của người cầm chương. Khoảng 21 giờ cùng ngày Vũ Thanh T4 đến và tham gia đánh bạc cùng mọi người, quá trình đánh bạc T bị thua hết tiền nên về nhà lấy thêm 1.500.000 đồng và mua thêm một bộ bài tú lơ khơ 52 quân tại quán tạp hóa của chị Roãn Thị D1 rồi quay lại lán tiếp tục đánh bạc. Đến 23 giờ 15 phút ngày 25/6/2024 lực lượng Công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc 01 chiếu cói, 02 bộ tú lơ khơ 52 cây, số tiền 13.000.000 đồng (trên chiếu bạc 6.650.000 đồng, trên người các đối tượng 6.350.000 đồng), quá trình bắt quả tang Đặng Văn M và Đỗ Văn T1 bỏ chạy. Ngày 26/6/2024 Lương Ngọc T2 ra đầu thú, ngày 27/6/2024 Lương Duy C1 ra đầu thú, ngày 04/7/2024 Đỗ Văn T1 và Đặng Văn M ra đầu thú khai nhận hành vi tham gia đánh bạc của mình. Cư tự nguyện giao nộp số tiền 250.000 đồng,

T2 tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng sử dụng để đánh bạc. Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 16.260.000 đồng, trong đó Nguyễn Văn T khai nhận sử dụng số tiền 800.000 đồng để đánh bạc, khi bị thua về lấy thêm 1.500.000 đồng để đánh bạc. Tổng số tiền T sử dụng đánh bạc là 2.300.000 đồng (Khi bị bắt trên người còn 1.750.000 đồng đã tự nguyện giao nộp).

Bản án sơ thẩm 112/2024/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã quyết định:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T- Phạm tội “Đánh bạc”
  2. Về hình phạt:

Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ đi thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/6/2024 đến ngày 04/7/2024.

Phạt bổ sung bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 5.000.000đồng (Năm triệu đồng) để sung quỹ nhà nước.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về tội danh, hình phạt của các bị cáo Đỗ Văn L, Vũ Thanh T4, Nguyễn Quyết C, Đỗ Văn T1, Hà Duy M1, Lương Ngọc T2, Đặng Văn M, Lương Duy C1; xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 05/12/2024, bị cáo Nguyễn Văn T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo T khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản án sơ thẩm và giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình sau khi phân tích toàn bộ nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cũng như nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa một phần bản án hình sự sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo không có tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh của bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để cho bị cáo được hưởng án treo.

Căn cứ vào những chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định là hợp lệ nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn T thấy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án, vì vậy, có đủ căn cứ xác định:

Vào hồi 23 giờ 15 phút ngày 25/6/2024, tại lán trông coi vịt của Đỗ Văn L. Công an huyện T bắt quả tang Đỗ Văn L, Nguyễn Quyết C, Vũ Thanh T4, Hà Duy M1,Nguyễn Văn T đang đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh ba cây. Thu giữ tại chiếu bạc 01 chiếu cói, 02 bộ bài tú lơ khơ 52 cây và số tiền 13.000.000 đồng sử dụng vào mục đích đánh bạc (trong đó thu tại chiếu bạc 6.650.000 đồng, thu trên người các bị cáo số tiền 6.350.000 đồng).Tổng số tiền thu tại chiếu bạc là 13.750.000 đồng. Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T và đồng phạm khai nhận tổng số tiền đã sử dụng vào mục đích đánh bạc là 16.260.000 đồng. Bị cáo Nguyễn Văn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó Toà án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về “Tội Đánh bạc” theo khoản 1, khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội.

[3] Xét kháng cáo của bị cáo thì thấy:

Về tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội. Mặc dù bị cáo nhận thức được đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật vì bị cáo bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc vào năm 2006 nhưng không làm chủ được bản thân, lần này lại cố ý phạm tội “Đánh bạc”. Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội, căn cứ nhân thân, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đánh giá vai trò đồng phạm của bị cáo trong vụ án để quyết định xử phạt bị cáo 09 (chín) tháng tù, phạt bổ sung bị cáo 5.000.000 đồng (năm triệu đồng) để nộp ngân sách nhà nước là phù hợp.

Tuy nhiên, tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo xuất trình Biên lai thu tiền phạt và án phí 2.200.000đồng là thể hiện bị cáo đã nộp được một phần các nghĩa vụ theo quyết định của bản án sơ thẩm, sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, bị cáo xin được hưởng án treo để tự cải tạo bản thân thành người có ích.

Đây là những tình tiết mới phát sinh, thể hiện bị cáo thực sự ăn năn hối cải và có ý thức chấp hành bản án. Xét bị cáo lần đầu phạm tội, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú và gia đình quản lý, giáo dục cũng đủ tỉnh răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

Căn cứ Nghị quyết số 02/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo thì bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo, sửa một phần bản án sơ thẩm về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Nguyễn Văn T được hưởng án treo để bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương là thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

[5] Về án phí: Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355, điểm e khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn T, sửa Bản án sơ thẩm số 112/2024/HS-ST ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình về biện pháp chấp hành hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

  • Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Đánh bạc”
  • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm i, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 50, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (năm) 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án phúc thẩm ngày 14/3/2025.

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Toà

án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Áp dụng điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng áp phí và lệ phí Toà án: bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án ngày 14/3/2025./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - TAND, VKSND, CA, THA huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Đông Xuyên, huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình;
  • - Bị cáo có kháng cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Kim Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HSPT ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH về hình sự phúc thẩm (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 36/2025/HSPT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger