|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày: 30 – 5 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Hùng
Thẩm phán: Ông Lê Quang Ninh
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lương Thị Diệu
Bà Vy Thị Xuân Hoà
Bà Lê Nguyễn Thị Ngọc Lan
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Công Thành Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên Tòa: Ông Trương Thanh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 21/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 29/2025/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 24/2025/HSST-QĐ ngày 07 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn L, sinh năm 1991 tại tỉnh Thanh Hoá.
Nơi thường trú: thôn C, xã C, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; nơi ở hiện tại: Phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1955 và bà Lê Hồng C, sinh năm 1956; có 06 anh chị em, người lớn nhất sinh năm 1980, người nhỏ nhất sinh năm 1994, bị cáo là con thứ 5 trong gia đình; tiền án, tiền sự: không; bị Cơ quan điều tra giữ người trong trường hợp khẩn cấp, sau đó bị bắt, tạm giữ, khởi tố chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B từ ngày 12/5/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Trương Quốc K sinh năm 1978, Luật sư thuộc Đoàn luật sư tỉnh B bào chữa cho cho Nguyễn Văn L. (có mặt)
- Bị hại: Ông Lê Văn T, sinh năm 1987; (có mặt)
2
Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện H, tỉnh Thanh Hóa.
Địa chỉ liên hệ: Thôn H, xã T, thị xã L, tỉnh Bình Thuận.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Vũ Hùng C1, sinh năm 1995; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1991; (có mặt)
Nơi cư trú: Xã C, thị xã N, tỉnh Thông Hóa.
- Người làm chứng:
1. Ông Phùng Chí H2, sinh năm 1969; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
2. Ông Trương Sĩ X, sinh năm 1970; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
3. Bà Phùng Kim H3, sinh năm 1998; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
4. Ông Phạm Tuấn A; (vắng mặt)
Nơi cư trú: Phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn L, bị hại ông Lê Văn T và ông Vũ Hùng C1 cùng làm việc tại Khu Công nghiệp B và ở chung phòng trọ trong khu nhà trọ M thuộc khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước.
Khoảng 19 giờ ngày 11/5/2024, bị cáo cùng ông T, ông C1 và một số người bạn của ông T ăn, uống bia tại vỉa hè tiệm cơm tấm đêm gần phòng trọ của bị cáo do chị Phùng Kim H3 làm chủ. Trong lúc ăn uống, ông T nói bị cáo làm việc chậm nên cả hai xảy ra mâu thuẫn cãi vã nhưng được mọi người can ngăn. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, nhóm của bị cáo nghỉ uống bia và ra về chỉ còn bị cáo và ông T ở lại quán gọi cơm ăn và nói chuyện với nhau rồi tiếp tục xảy ra cãi vã. Bực tức vì bị ông T chửi, bị cáo cầm một ống tre hình trụ (dạng điếu cày) đến đánh trúng vào người của ông T nhiều cái. Ông T cầm 01 cái kéo có sẵn ở trên bàn ăn đi đến đâm 01 nhát trúng vào vai trái của bị cáo. Sau đó, bị cáo và ông T được mọi người can ngăn nên ngưng đánh nhau. Bị cáo đi về phòng trọ còn ông T tiếp tục quay lại quán ăn cơm. Do vẫn còn bực tức nên bị cáo tiếp tục lấy 01 con dao dạng dao phay, chiều dài 40cm, độ rộng lưỡi dao 6,5cm trên cửa sổ phòng trọ, chạy ra tìm chém ông T. Khi nhìn thấy bị cáo, ông T đứng dậy cầm 01 cái ly nhựa ném về phía bị
3
cáo nhưng không gây thương tích, bị cáo cầm dao chém 01 nhát từ trên xuống trúng đầu của ông T làm ông T té xuống đất. Bị cáo tiếp tục cầm dao đưa lên cao thì được ông Phùng Chí H2 và Phạm Tuấn A can ngăn nên bị cáo ngừng lại và vứt dao tại hiện trường rồi bỏ đi. Ông T được đưa đi cấp cứu tại Phòng khám Đ rồi chuyển đến Bệnh viện C2.
Quá trình điều tra thì bị cáo Nguyễn Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản kết luận giám định tổn thương trên người sống số 221/KLTTCT-TTPY ngày 13/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Lê Văn T kết luận:
Kết quả khám giám định:
- Tụ máu ngoài màng cứng đỉnh chẩm phải. Dập não xuất huyết đỉnh phải, xuất huyết dưới nhện rải rác bán cầu phải. Nứt sọ đỉnh 2 bên thái dương, xương đá phải. Đã phẫu thuật lấy máu tụ trong sọ, ngoài màng cứng.
- Khuyết sọ đỉnh phải đường kính (11x8)cm, đáy mềm. Tổn thương nhu mô não đỉnh phải đường kính 6cm.
- Sẹo hình vòng cung đình phải kích thước (14x0,2)cm, gọn, mềm.
- Sẹo ngang đỉnh kích thước (8x0,1)cm, gọn, mềm.
Kết luận:
- Tổn thương trên có đặc điểm của tổn thương do vật tày cứng (có thể có cạnh) tác động trực tiếp từ trên xuống dưới.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Văn T tại thời điểm giám định là 62% (Sáu mươi hai phần trăm).
Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể trên người sống số 432/KLTTCT-TTPY ngày 30/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh B đối với Nguyễn Văn L kết luận:
- Kết quả khám giám định: Sẹo vai trái kích thước (03x03)cm, sẹo lồi. Vận động vai trái trong giới hạn bình thường.
Kết luận:
- Tổn thương trên có đặc điểm tổn thương do vật có cạnh sắc có thể kèm nhọn tác động trực tiếp gây ra.
- Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Văn L tại thời điểm giám định là: 02% (Hai phần trăm).
Tại Kết luận giám định số 579/24/KLGĐADN ngày 24/10/2024 của V – Bộ Y kết luận:
- Thử định tính phát hiện nhông vết máu người trên mẫu con dao và dấu vết màu nâu đỏ: Dương tính.
4
- ADN thu được từ mẫu phết trên con dao, thông tre và dấu vết màu nâu đỏ trùng khớp hoàn toàn với ADN của Lê Văn T trên tất cả các locus STR đã so sánh.
- Không thu được dữ liệu ADN đầy đủ từ mẫu phết trên cái kéo gửi giám định nên không thể so sánh với ADN của Lê Văn T và Nguyễn Văn L.
Tại Kết luận giám định số 918/KL-KTHS ngày 22/11/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B, kết luận:
- Không tìm thấy dấu hiệu bị cắt, ghép, chỉnh sửa nội dung trong các tập tin video gửi giám định ký hiệu A1 – A5.
- Trích xuất được 6483 hình ảnh thể hiện diễn biến vụ việc (nội dung ghi trong tập tin có tên “Hinh trich xuat.rar" dung lượng 3,24GB, mã MD5 “37E56D9D85D6F2ED9633E7B65D797” được lưu giữ trong đĩa DVD gửi kèm theo) trong các tập tin gửi giảm dịnh ký hiệu A1- A5.
Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- Quá trình khám nghiệm hiện trường thu giữ:
Dấu vết màu nâu đỏ, đã khô nghi máu, sử dụng tăm bông thu giữ sau đó cho vào túi niêm phong chuyên dụng, dán kín (đã phục vụ giám định hết);
- 01 (một) đôi giày màu nâu (loại giày da), để giày màu đen, gồm hai chiếc trái và phải cùng có kính thước (28 x 10)cm;
- 01 (một) bịch nilon màu trắng bên trong có chứa 01 con dao kim loại cán gỗ (dạng dao phay), chiều dài 40cm, độ rộng lưỡi dao 6,5cm;
- 01 (một) ống tre hình trụ (điếu cày) bên ngoài được sơn màu đỏ, chiều dài 56cm, đường kính 4cm, một đầu ống tre bị tác động ngoại lực làm cho vỡ nát;
- 01 (một) thông gỗ (tre) chiều dài 20cm, bản rộng 3cm.
- Quá trình điều tra thu giữ:
01 cái kéo kim loại dài 23,7cm, quai tay cầm rộng 12cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đỏ, thân kéo có chữ “PT”;
01 USB nhãn hiệu Kingston, loại 8Gb lưu giữ Video diễn biến vụ án;
01 mẫu tóc của Nguyễn Văn L (đã phục vụ giám định hết);
01 mẫu tóc của Lê Văn T (đã phục vụ giám định hết).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Văn L đã tác động gia đình bồi thường được số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu đồng) tiền điều trị thương tích cho bị hại Thứ. Ông T yêu cầu bị cáo tiếp tục bồi thường theo quy định và có đơn xin bãi nại cho bị cáo.
Tại Cáo trạng số: 16/CT-VKSBP-P2 ngày 03 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn L về tội “Giết người” quy định điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự.
5
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên Cáo trạng truy tố bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người” trong trường hợp phạm tội chưa đạt.
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điều 15, 38, 50, 57 các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L mức án từ 09 năm đến 10 năm tù.
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo Nguyễn Văn L, bị hại Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 (anh ruột của bị cáo).
Về xử lý vật chứng: Đề nghị xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
- Bị cáo Nguyễn Văn L thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử bị cáo một mức án nhẹ nhất.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa:
Thống nhất quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và khung hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Văn L. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, có tác động gia đình bồi thường thiệt hại, hoàn cảnh gia đình khó khăn và bị hại có đơn bãi nại. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã biết hành vi của mình là sai trái, bị cáo xin lỗi người bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trông tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước đã truy tố. Xét, lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; lời khai của người
6
làm chứng; phù hợp với biên bản thực nghiệm điều tra, bản ảnh thực nghiệm điều tra, bản kết luận giám định pháp y về tử thi; bản kết luận giám định AND; bản kết luận giám định tổn thương cơ thể; phù hợp với vật chứng của vụ án và những tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên toà. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ ngày 11/5/2024, tại vỉa hè tiệm cơm tấm đêm thuộc khu phố D, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước, do mâu thuẫn trong lúc ăn, uống bia mà bị cáo Nguyễn Văn L cầm một ống tre hình trụ (dạng điếu cày) đánh trúng vào người của bị hại Lê Văn T nhiều cái. Ông T cầm 01 cái kéo có sẵn ở trên bàn ăn đâm 01 nhát trúng vào vai trái của bị cáo. Sau đó, bị cáo và ông T được mọi người can ngăn nên ngưng đánh nhau. Do vẫn còn bực tức nên bị cáo tiếp tục lấy 01 con dao dạng dao phay từ trong phòng trọ ra chém 01 nhát từ trên xuống trúng đầu của ông T gây dập não xuất huyết đỉnh phải, nứt sọ đỉnh 2 bên thái dương. Sau khi chém ông T, bị cáo được mọi người can ngăn nên bỏ đi khỏi hiện trường. Hành vi của bị cáo là quyết liệt, với cường độ mạnh, tấn công vào vùng trọng yếu trên cơ thể gây nguy hiểm đến tính mạng của ông T. Việc ông T không chết là do được đưa đi cấp cứu kịp thời.
Hội đồng xét xử đủ căn cứ để xác định: Chỉ vì xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ nhặt trong lúc đời sống, mà bị cáo đã dùng 01 con dao dạng phay là hung khí nguy hiểm từ trong phòng trọ ra chém 01 nhát từ trên xuống trúng đầu của ông T thể hiện tính côn đồ, xem thường pháp luật. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 và Điều 15 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo hoàn toàn nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, thấy trước hậu quả chết người có thể xảy ra, nhưng do coi thường pháp luật, coi thường tính mạng của người khác nên bị cáo vẫn thực hiện.
[4] Xét mức độ, tính chất, hậu quả mà bị cáo gây ra là đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến tính mạng của người bị hại là khách thể đặc biệt được Luật hình sự ưu tiên bảo vệ; Hành vi của bị cáo gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang trong đời sống xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống tinh thần người thân và gia đình người bị hại. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bị cáo tác động gia đình khắc phục bồi thường cho bị hại số tiền 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu) đồng; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo; hoàn
7
cảnh gia đình khó khăn; gia đình bị cáo có công với Cách mạng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét khi lượng hình.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị hại Lê Văn T yêu cầu bị cáo Nguyễn Văn L bồi thường tổng chi phí là 125.000.000 (Một trăm hai mươi lăm triệu) đồng. Ông Nguyễn Văn H1 (anh ruột bị cáo) đã bồi thường 65.000.000 (sáu mươi lăm triệu) đồng cho bị hại và bị hại đồng ý để ông Nguyễn Văn H1 tiếp tục bồi thường 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng cho bị hại. Xét thấy, việc thoả thuận của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là tự nguyện, đúng quy định pháp luật.
Do vậy, cần ghi nhận sự tự nguyện thoả thuận này.
Đối với số tiền 125.000.000 (Một trăm hai mươi lăm triệu) đồng mà ông Nguyễn Văn H1 đã bỏ ra bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Văn T, ông Nguyễn Văn H1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn văn L trả lại nên không xem xét.
[8] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015,
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi giày màu nâu (loại giày da), để giày màu đen, gồm hai chiếc trái và phải cùng có kính thước (28 x 10)cm; 01 (một) bịch nilon màu trắng bên trong có chứa 01 con dao kim loại cán gỗ (dạng dao phay), chiều dài 40cm, độ rộng lưỡi dao 6,5cm; 01 (một) ống tre hình trụ (điếu cày) bên ngoài được sơn màu đỏ, chiều dài 56cm, đường kính 4cm, một đầu ống tre bị tác động ngoại lực làm cho vỡ nát; 01 (một) thông gỗ (tre) chiều dài 20cm, bản rộng 3cm; 01 cái kéo kim loại dài 23,7cm, quai tay cầm rộng 12cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đỏ, thân kéo có chữ “PT”.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ký hiệu D47/2017, quyển số 0009, số 0000443 ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Công an tỉnh B với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước)
[9] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.
[10] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[11] Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và ông Nguyễn Văn H1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo mức có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán.
Vì các lẽ trên,
8
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”.
2. Về áp dụng pháp luật và hình phạt:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123; các điều 15, 38, 50, 57 các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 09 (chín) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 12/5/2024.
3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ các điều 584, 585, 590 của Bộ luật Dân sự 2015,
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Nguyễn Văn L, bị hại Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H1 (anh ruột của bị cáo) cụ thể như sau: ông Nguyễn Văn H1 tiếp tục bồi thường cho bị hại Lê Văn T số tiền là 60.000.000 (Sáu mươi triệu) đồng.
Đối với số tiền 125.000.000 (Một trăm hai mươi lăm triệu) đồng mà ông Nguyễn Văn H1 đã bỏ ra bồi thường thiệt hại cho bị hại Lê Văn T, ông Nguyễn Văn H1 không yêu cầu bị cáo Nguyễn văn L trả lại nên không xem xét.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đôi giày màu nâu (loại giày da), để giày màu đen, gồm hai chiếc trái và phải cùng có kính thước (28 x 10)cm; 01 (một) bịch nilon màu trắng bên trong có chứa 01 con dao kim loại cán gỗ (dạng dao phay), chiều dài 40cm, độ rộng lưỡi dao 6,5cm; 01 (một) ống tre hình trụ (điếu cày) bên ngoài được sơn màu đỏ, chiều dài 56cm, đường kính 4cm, một đầu ống tre bị tác động ngoại lực làm cho vỡ nát; 01 (một) thông gỗ (tre) chiều dài 20cm, bản rộng 3cm;
9
01 cái kéo kim loại dài 23,7cm, quai tay cầm rộng 12cm, có vỏ bọc bằng nhựa màu đỏ, thân kéo có chữ “PT”.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng tài sản ký hiệu D47/2017, quyển số 0009, số 0000443 ngày 02 tháng 6 năm 2025 của Công an tỉnh B với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Phước)
5. Về án phí:
- Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H1 phải chịu 3.000.000 (Ba triệu) đồng.
6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Viết Hùng |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 30/05/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về giết người
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Giết người
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Giết người”.
