Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày: 26-02-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân
  2. Bà Lê Thị Phương Hồ

- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi tham gia phiên tòa:

Ông Đồng Quang Hải – Kiểm sát viên.

Trong ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi tiến hành xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 357/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 12 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 17/2025/HSST-QĐ ngày 19 tháng 02 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Minh T, sinh năm 1978 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi thường trú: Số E đường Q, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở: Số C đường L, ấp X, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Cao Thị H; Vợ, con: chưa có;

Tiền sự: Không;

Tiền án: Năm 2022, bị Toà án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 79/2022/HS-ST ngày 26/4/2022, chấp hành xong hình phạt ngày 31/5/2023.

Nhân thân:

  • - Năm 1997, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về hành vi “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân” theo Bản án số 967/HS-ST ngày 14/6/1997, chấp hành xong hình phạt ngày 03/4/2000.
  • - Năm 2008, bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm tù giam về hành vi “Cướp giật tài sản” theo Bản án số 586/HS-PT ngày 27/9/2008, chấp hành xong hình phạt ngày 27/3/2010
  • - Năm 2017 bị Ủy ban nhân dân Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh áp dụng biện pháp đưa đi cai nghiện bắt buộc theo Quyết định số 121/QĐ-TA ngày 22/08/2017 tại Cơ sở cai nghiện B.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/11/2024. (Có mặt)

  • - Bị hại: Công ty TNHH T1; địa chỉ: Số B Tỉnh lộ 2, Ấp B, xã P, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Ông Lê Toàn H1, sinh năm: 1971; địa chỉ: Số G Đường H, ấp C, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin vắng mặt)
  • - Người làm chứng: Ông Đoái Hoàng K, sinh năm: 1974; địa chỉ: Số F Tỉnh lộ 2, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Minh T từng có thời gian làm việc tại cây xăng Đ1 tại địa chỉ số B Tỉnh Lộ 2, Ấp B, xã P, huyện C từ tháng 12/2023 đến tháng 04/2024 thì T nghỉ việc. Do không có việc làm ổn định, cần tiền tiêu xài, T đã này sinh ý định trộm cắp tài sản. Vào lúc 01 giờ 50 phút ngày 10/06/2024, T đi bộ từ nhà trọ tại Tỉnh Lộ 2, ấp B, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh đến cây xăng Đ1 nhằm mục đích trộm cắp tài sản. Khi đi T có mặc một áo mưa màu xanh đen, đeo khẩu trang để tránh bị nhận dạng khi đột nhập vào cây xăng tìm kiếm tài sản để trộm cắp. Do từng là nhân viên cũ của cửa hàng, T nắm được chỗ để chìa khóa nên đã đi thẳng vào khuôn viên bên trong tiến lại chỗ bàn sắt sau trụ bơm xăng mở hộc tủ, lấy chìa khóa nhằm mở cửa nhà giữ xe của cây xăng để lấy tài sản.

Lấy được chìa khóa, T tiến lại vị trí nhà xe thì phát hiện nhà xe không khóa mà chỉ móc ổ khóa cửa lại. T mở cửa và nhìn thấy bên trong có khoảng 03-04 xe mô tô đang để bên trong, quan sát thấy có một xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu nâu biển số 59S2-207.66 dựng ở bên trong nhà xe có cắm chìa khóa sẵn nên T đã lén lút chiếm đoạt xe mô tô nêu trên rồi điều khiển xe về huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để lẩn trốn.

Đến khoảng 08 giờ cùng ngày, T liên lạc với một người đàn ông tên V (T không rõ nhân thân lai lịch) để ngỏ ý muốn bán xe mô tô mà T vừa trộm được tại cây xăng Đ1 thì được V đồng ý. Sau đó, V hẹn T đến khu vực chân cầu Bà L thuộc xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh để xem xe và thực hiện giao dịch.

Khoảng 15 phút sau thì T và V gặp nhau ở địa điểm đã hẹn và V đồng ý mua xe mô tô của T với giá 1.800.000 đồng. Sau khi bán xe mô tô cho V, T đón xe ôm đi về nhà trọ ở xã T, huyện C. Còn V đi đâu thì T không rõ.

Ngày 10/6/2024, ông Lê Toàn H1 đại diện Công ty TNHH T1 đã làm đơn trình báo. Ngày 08/11/2024, Cơ quan điều tra mời Nguyễn Minh T về làm việc, tại đây T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 91/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản kết luận (BL 74): 01 xe Honda, loại Dream, màu nâu, biển số 59S2-207.66 trị giá: 7.000.000 đồng.

Vật chứng thu giữ: 01 USB màu đen; 01 ổ khóa bằng kim loại màu trắng, dài 09cm, dày 02cm, ngang 06cm; 01 chìa khóa bằng kim loại đang ghim vào trong ổ khóa bằng kim loại trắng; 02 bảng mica kí hiệu "Phòng 111" chữ màu trắng, nền màu xanh dương, độ dài 8cm, rộng 05cm, dày 02mm;

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lê Toàn H1 đại diện Công ty TNHH T1 yêu cầu bị cáo T bồi thường 7.000.000 đồng. Bị cáo T chưa bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 22/CT-VKS.CC ngày 25/12/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã truy tố bị cáo Nguyễn Minh T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên toà:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và đồng ý với Bản kết luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi thực hiện quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, trình bày lời luận tội, đánh giá tính chất, mức độ và hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH T1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 7.000.000đ. Bị cáo Nguyễn Minh T đồng ý bồi thường số tiền trên. Đây là sự tự nguyện của các bên, không vi phạm điều cấm của pháp luật và không trái đạo đức xã hội nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.

* Bị cáo không có lời bào chữa, không có ý kiến tranh luận với phần luận tội của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi.

* Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn năn hối cải, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm trở về với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 01 giờ 50 phút ngày 10/6/2024, bị cáo Nguyễn Minh T có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Dream biển số 59S2 – 207.66 của Công ty TNHH T1. Theo Kết Luận định giá tài sản số 91/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda, loại Dream, màu nâu, biển kiểm soát 59S2 – 207.66, trị giá: 7.000.000 đồng.

Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo T là có căn cứ, đúng quy định pháp luật, đúng tội, đúng người. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Minh T đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của tổ chức, cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây ảnh hưởng đến đời sống và sinh hoạt tại địa phương. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo nhận thức rõ việc bị cáo lén lút chiếm đoạt tài sản của tổ chức, cá nhân khác sẽ bị pháp luật trừng trị nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên đi đến hành động phạm tội chỉ vì cần tiền tiêu xài nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử nghĩ cần áp dụng hình phạt nghiêm minh, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội và để bảo đảm đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2022, bị cáo bị Toà án nhân dân huyện Hóc Môn xử phạt 01 năm 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án số 79/2022/HS-ST ngày 26/4/2022. Bị cáo chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà ngày hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định.

[5] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với 01 USB màu đen, nhãn hiệu Kingmax, dung lượng 32Gb chứa dữ liệu liên quan đến vụ án: Đây là tài liệu, chứng cứ của vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần lưu kèm trong hồ sơ vụ án;
  • Đối với 01 ổ khóa bằng kim loại màu trắng, dài 09cm, dày 02cm, ngang 06cm; 01 chìa khóa bằng kim loại đang ghim vào trong ổ khóa bằng kim loại trắng; 02 bảng mica kí hiệu "Phòng 111" chữ màu trắng, nền màu xanh dương, độ dài 8cm, rộng 05cm, dày 02mm: Xét đây là tài sản của bị hại Công ty TNHH T1, tuy nhiên bị hại không yêu cầu nhận lại. Hội đồng xét xử xét thấy cần tịch thu tiêu hủy;

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Công ty TNHH T1 yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, bị cáo T đồng ý bồi thường số tiền trên cho bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Đối với người thanh niên tên V đã mua lại chiếc xe máy Honda Dream, hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch, đề nghị Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý sau.

[9] Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; bị cáo Nguyễn Minh T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Minh T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh T 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/11/2024.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
    • - Lưu hồ sơ vụ án 01 USB màu đen, nhãn hiệu Kingmax, dung lượng 32Gb chứa dữ liệu liên quan đến vụ án.
    • - Tịch thu tiêu hủy: 01 ổ khóa bằng kim loại màu trắng, dài 09 cm, dày 02 cm, ngang 06 cm; 01 chìa khóa bằng kim loại đang được ghim vào bên trong ổ khóa, bằng kim loại màu trắng (phần còn thừa bên ngoài) với chiều dài 03 cm, rộng 02 cm, dày 03 mm; 02 bảng mica kí hiệu "Phòng 111" chữ màu trắng, nền màu xanh dương, độ dài 08 cm, rộng 05 cm, dày 02 mm;
    • (Theo Phiếu nhập kho vật chứng số 116/PNK ngày 25/02/2025)
  3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào khoản 1 Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 584 và Điều 589 Bộ luật Dân sự năm 2015; Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Minh T đồng ý bồi thường cho bị hại Công ty TNHH T1 số tiền 7.000.000đ (bảy triệu đồng), trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  4. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội;

    Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 350.000 (ba trăm năm mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

  5. Về quyền yêu cầu thi hành án:

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự năm 2014.

    Thi hành tại Chi cục thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND HCC;
  • - Chi cục THADS HCC;
  • - THAHS;
  • - Phòng PC53;
  • - Sở Tư pháp TP.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vào khoảng 01 giờ 50 phút ngày 10/6/2024, bị cáo Nguyễn Minh Tú có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 chiếc xe gắn máy hiệu Honda Dream biển số 59S2 – 207.66 của Công ty TNHH Thương mại Dịch vụ Xây dựng Đức Thành Vinh
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger