Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 24-11-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Thiện Bửu.
  2. Ông Bùi Minh Châu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Phan Hoàng Thái - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2025/TLST-HS, ngày 23 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS, ngày 07 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Võ Khắc H (Tên gọi khác: Bi E), sinh ngày 31/01/1994, tại tỉnh Đồng Tháp. Nơi cư trú: Tổ E, khóm I, phường M, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không.; giới tính: Nam; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Hữu L, sinh năm 1952 và bà Võ Thị Kim M, sinh năm 1956; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Có 01 tiền án, ngày 17/9/2019, bị Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xử phạt 10 năm về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong ngày 12/6/2025; tạm giữ: Ngày 15/7/2025; tạm giam từ ngày 18/7/2025 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam H1, Công an tỉnh Đ (bị cáo có mặt tại phiên toà).

- Bị hại: Ông Cao Văn Đ, sinh năm 1990 (vắng mặt, lưu ý có đơn ko)

Nơi cư trú: Khóm T, phường H, tỉnh Đồng Tháp.

- Người làm chứng: Bà Tôn Thị Đ1, sinh năm 1977 (Vắng mặt).

Nơi cư trú: Khóm A, phường A, tỉnh Đồng Tháp.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 15/7/2025, anh Cao Văn Đ, sinh ngày: 20/11/1990, cư trú: ấp T, phường H, tỉnh Đồng Tháp, điều khiển xe mô tô biển số 66H1 - 136.37 một mình đi từ hướng khóm B đến khóm C, phường H, tỉnh Đồng Tháp đến đoạn đường T thuộc khóm C, phường H, tỉnh Đồng Tháp thì bị đối tượng Nguyễn Võ Khắc H, sinh ngày: 31/01/1994, cư trú: tổ E, khóm I, phường M, tỉnh Đồng Tháp chặn đầu xe sử dụng gạch ống đánh trúng vào tay gây thương tích, Đại đậu xe lại bỏ chạy thì Khắc H sử dụng gạch ống và miếng gạch lót nền nhặt ở vĩa hè ném theo, nhưng không có thương tích gì, sau khi Cao Văn Đ bỏ chạy thì Nguyễn Võ Khắc H cướp lấy xe mô tô điều khiển đi khỏi hiện trường. Đến khoảng 14 giờ 30 phút, cùng ngày đối tượng Nguyễn Võ Khắc H điều khiển xe mô tô đã cướp được đến Công an phường H, tỉnh Đồng Tháp tự thú hành vi của mình.

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 484/KL-HĐĐGTS, ngày 24 tháng 7 năm 2025, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng, như sau: 01 (một) xe mô tô biển số 66H1 - 136.37, nhãn hiệu Honda, màu sơn đỏ - đen, số loại: Wave RSXFI, số máy: JA32E1037721, số khung: RLHJA3200EY018295, giá trị là: 8.600.000₫ (Tám triệu sáu trăm nghìn đồng).

* Vật chứng thu giữ và xử lý:

- Vật chứng thu giữ của Nguyễn Võ Khắc H :

  • + 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-136.37, số máy: JA32E1037721, số khung: RLHJA3200EY018295, màu đỏ đen, đã qua sử dụng.
  • + 01 (một) mãnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 6,5cm.
  • + 01 (một) mảnh vỡ của miếng gạch thuộc loại gạch lót nền, gồm 2 mặt, trong đó: 01 mặt màu trắng, 01 mặt màu nâu, không xác định được hình dạng cụ thể, kích thướt gồm: Chiều dài 40cm, chiều rộng lớn nhất 25cm và chiều rộng nhỏ nhất 08cm.
  • + 01 (một) mảnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 8cm.

- Xử lý vật chứng: 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-136.37, số máy: JA32E1037721, số khung: RLHJA3200EY018295, màu đỏ đen, đã qua sử dụng. Trong giai đoạn điều tra làm rõ vụ án, xác định là tài sản hợp pháp của bị hại Cao Văn Đ, có nhu cầu xin lại để sử dụng, xét thấy việc trả lại tài sản không gây

trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả cho bị hại theo quy định của pháp luật.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Cao Văn Đ đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt, không yêu cầu bồi thường dân sự.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Võ Khắc H thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số: 07/CT-VKSKV12 ngày 23/10/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp truy tố bị cáo Nguyễn Võ Khắc H về tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Đồng Tháp thực hành quyền công tố khẳng định hành vi của bị cáo Nguyễn Võ Khắc H đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự nên giữ y cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 168, điểm h, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Võ Khắc H từ 08 (tám) năm đến 09 (chín) năm tù. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo sống bằng nghề làm thuê, thu nhập không ổn định nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Về vật chứng: Căn cứ Điều (lấy điều luật trong cáo trạng VKS ghi vô) đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa DVD - R (ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị cáo Nguyễn Võ Khắc H); tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mãnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 6,5cm; 01 (một) mảnh vỡ của miếng gạch thuộc loại gạch lót nền, gồm 2 mặt, trong đó: 01 mặt màu trắng, 01 mặt màu nâu, không xác định được hình dạng cụ thể, kích thướt gồm: Chiều dài 40cm, chiều rộng lớn nhất 25cm và chiều rộng nhỏ nhất 08cm; 01 (một) mảnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 8cm.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Võ Khắc H đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình theo cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo thống nhất với nội dung luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà mình đã thực hiện như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát. Bản thân bị cáo đang có 01 tiền án về tội trộm cắp tài sản, sau khi chấp hành án xong, do không có nghề nghiệp ổn định, lười lao động, nhưng lại muốn nhanh có tiền tiêu xài nên nãy sinh ý định cướp tài sản của người khác, lợi dụng đường vắng, thấy bị hại Cao Văn Đ điều khiển xe mô tô biển số 66H1 - 136.37 đi một mình, nên sử dụng hung khí là gạch (loại gạch ống và gạch lót nền) xông ra chặn xe đánh, ném bị hại Đ làm cho bị hại không thể chống cự được bỏ chạy để nhanh chóng cướp lấy xe mô tô biển số 66H1 - 136.37 tẩu thoát. Căn cứ vào lời khai của bị cáo, người bị hại, người làm chứng, cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã có đủ căn cứ để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Võ Khắc H đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” quy định tại khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát.

Điều 168. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm...

h) Tái phạm nguy hiểm...

Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, mặt khác còn làm ảnh hưởng đến tỉnh hình trật tự tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân nên phải xử lý thật nghiêm theo quy định pháp luật.

[3] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bản thân đang có 01 tiền án về tội trộm cắp. Đáng ra, qua lần bị xử phạt nói trên, bị cáo phải biết suy ngẫm lại hành vi sai trái của mình, ăn năn hối cải ra sức lao động đề tìm cho mình một việc làm hợp pháp, có thu nhập chính đáng từ chính công sức lao động của mình. Nhưng bị cáo không làm được điều đó mà sau khi chấp hành xong hình phạt tù bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội cướp tài sản. Hành vi phạm

tội của bị cáo thể hiện sự thiếu ý thức trong việc tu dưỡng rèn luyện nhân cách, thể hiện bản chất xem thường pháp luật.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải về hành vi phạm tội đã thực hiện, sau khi phạm tội bị cáo đến cơ quan Công an tự thú về hành vi phạm tội đã thực hiện, bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị cáo thuộc diện gia đỉnh có công cách mạng (có cha là ông Nguyễn Hữu L là dân công hoả tuyến tham gia kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế ...................................Đây các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt trong lúc lượng hình nhằm thể hiện tính nhân đạo của Pháp luật Xã hội Chủ nghĩa.

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án:

Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng, trạ lại cho bị hại Cao Văn Đ 01 (một) xe mô tô biển số 66H1-136.37, số máy: JA32E1037721, số khung: RLHJA3200EY018295, màu đỏ đen, đã qua sử dụng vỉ đây là tài sản hợp pháp của bị hại Cao Văn Đ. Xét thấy, việc xử lý vật chứng của Cơ quan điều tra phù hợp với quy định tại Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với 01 (một) đĩa DVD - R (ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị cáo Nguyễn Võ Khắc H), đây là chứng cứ vụ án nên Hội đồng xét xử tiếp tục lưu vào trong hồ sơ vụ án.

Đối với các vật liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo, gồm : 01 (một) mãnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài

17,5cm, chiều rộng 6,5cm; 01 (một) mảnh vỡ của miếng gạch thuộc loại gạch lót nền, gồm 2 mặt, trong đó: 01 mặt màu trắng, 01 mặt màu nâu, không xác định được hình dạng cụ thể, kích thướt gồm: Chiều dài 40cm, chiều rộng lớn nhất 25cm và chiều rộng nhỏ nhất 08cm; 01 (một) mảnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 8cm, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu tiêu hủy là phù hợp pháp luật.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, bị hại ông Cao Văn Đ đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[8] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo sống bằng nghề làm thuê không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy nội dung luận tội của Kiểm sát viên là có căn cứ phù hợp pháp luật.

[9] Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án để buộc các bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 2 Điều 168; Điểm h, r, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Võ Khắc H (Tên gọi khác: Bi E) phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Võ Khắc H 09 (C) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 15/7/2025).

2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

-Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) mãnh vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 6,5cm; 01 (một) mảnh vỡ của miếng gạch thuộc loại gạch lót nền, gồm 2 mặt, trong đó: 01 mặt màu trắng, 01 mặt màu nâu, không xác định được hình dạng cụ thể, kích thướt gồm: Chiều dài 40cm, chiều rộng lớn nhất 25cm và chiều rộng nhỏ nhất 08cm; 01 (một) mảnh

vỡ của viên gạch ống xây dựng, màu cam, hình chữ nhật, chiều dài 17,5cm, chiều rộng 8cm.

( Vật chứng trên hiện Phòng thi hành án Dân sự Khu vực 12- tỉnh Đồng Tháp đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày.........)

-Tiếp tục lưu vào hồ sơ vụ án: 01 (một) đĩa D (ghi âm, ghi hình khi hỏi cung bị cáo Nguyễn Võ Khắc H);

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Võ Khắc H phải chịu 200.000đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/11/2025). Riêng Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • -;
  • - TAND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND tỉnh Đồng Tháp;
  • - VKSND khu vực 12- Đồng Tháp
  • - Phân trại tạm giam Hồng Ngự;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Đồng Tháp
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Phương Thảo

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Thị Phương Trang – Nguyễn Văn Trạng

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thanh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 24/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP về hình sự về tội cướp tài sản

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 – ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Võ Khắc Huy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger