|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 24-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Kim Oanh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Sĩ
Bà Nguyễn Thị Ánh Gương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Nhàn, Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Trần Xuân Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 6 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn K, sinh năm 1990 tại tỉnh Đồng Tháp, tên gọi khác: Không; nơi cư trú: ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: không biết chữ; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo hòa hảo; con ông Nguyễn Thanh P, sinh năm 1967 và bà Võ Thị N, sinh năm 1968; chưa có vợ, con; tiền sự: Không, tiền án: Ngày 28/9/2022, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 06 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản; Ngày 05/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp xử phạt 09 tháng tù, về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong ngày 17/7/2024, chưa được xóa án tích; tạm giữ: ngày 07/4/2025; tạm giam: ngày 10/4/2025; Bị cáo đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Bị hại: Nguyễn Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp (vắng mặt).
Người làm chứng:
- Đặng Văn D, sinh năm 1967 (vắng mặt).
- Võ Văn N1, sinh năm 1972 (vắng mặt).
- Châu Thị N2, sinh năm 1978 (vắng mặt).
Địa chỉ: Ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Cùng địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 08 giờ ngày 03/4/2025, Nguyễn Văn K thấy xe mô tô biển số 66NA- 006.79, nhãn hiệu KWASHAKI, của ông Nguyễn Văn T (dượng 6 Khánh) để dưới sàn nhà tại ấp K, xã P, không có người trông giữ nên K nảy sinh ý định trộm cắp xe mô tô, mục đích để sử dụng cá nhân. Vì vậy, K đi bộ từ nhà (đối diện) sang sàn nhà ông T khoảng cách 30 mét thấy một chìa khóa dưới đất, nhặt lên gắn vào ổ khóa xe, khởi động nổ máy, điều khiển xe mô tô đến nhà anh Võ Văn N1 (cậu K) tại ấp V, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Đến ngày 06/4/2025, Công an xã V mời K làm việc và K thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của ông T như đã nêu trên.
Vật chứng thu giữ:
01 xe môtô biển số 66NA-006.79, nhãn hiệu KWASHAKI, số loại 50C, màu xanh, số máy RPKFM1P39FMB00026969, số khung RPKDCB1PKAH0 16969, xe đã qua sử dụng, do ông Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho Nguyễn Văn T nhận xong.
Kết luận định giá tài sản số 11/KL-ĐGTS ngày 09/4/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: Một (01) xe mô tô, biển số 66NA-006.79, nhãn hiệu KWASHAKI, màu xanh, số khung 016969, số máy 00026969, tài sản đã qua sử dụng, giá trị định giá là 5.000.000 đồng.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Nguyễn Văn T đã nhận lại xe mô tô biển số 66NA-006.79, xe không bị hư hỏng, không yêu cầu K bồi thường thiệt hại tài sản.
Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKSTN ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp vẫn giữ nguyên nội dung truy tố bị cáo Nguyễn Văn K tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở đánh giá về hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết tăng nặng trách nhiệm, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”, xử phạt bị cáo K với mức hình phạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đã xử lý xong.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo K thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng và bản luận tội của Kiểm sát viên, không oan sai, thống nhất với giá trị tài sản theo Kết luận định giá tài sản, không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa, bị hại giữ nguyên lời khai trong quá trình điều tra, đã nhận lại tài sản xong, không yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản và thu nhập bị mất do không có phương tiện đi lại, đề nghị xử lý hành vi của bị cáo theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, đơn xin vắng mặt ngày 19/6/2025 bị hại xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để có cơ hội sửa đổi bản thân, tìm kiếm việc làm tạo thu nhập nuôi sống bản thân.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Toà án đã triệu tập hợp lệ bị hại, người làm chứng đến tham gia phiên toà. Bị hại vắng mặt có lý do, người làm chứng vắng mặt, không có lý do. Tuy nhiên, quá trình điều tra, những người vắng mặt nêu trên đã có lời khai được lưu vào trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của người bị hại và người làm chứng không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vụ án vắng mặt bị hại, người làm chứng theo quy định tại các Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Lời khai nhận tội của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ ngày 03/4/2025, Nguyễn Văn K lén lút lấy trộm xe mô tô biển số 66NA-006.79, nhãn hiệu KWASHAKI, do ông Nguyễn Văn T đứng tên chủ sở hữu, tại ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp, mục đích chiếm đoạt tài sản phục vụ nhu cầu cá nhân, có giá trị là 5.000.000 đồng, rồi điều khiển xe mô tô bỏ trốn. Do đó, Cáo trạng số: 40/CT-VKSTN ngày 04 tháng 6 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông truy tố bị cáo Nguyễn Văn K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo lợi dụng sự sơ hở việc trông giữ tài sản của bị hại mà xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản trái pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trị an ở địa phương. Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, đang trong độ tuổi lao động nhưng mong muốn có tài sản sử dụng mà không phải lao động vất vả, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Bản thân bị cáo có hai tiền án về hành vi trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo không biết sửa đổi bản thân, sống có ích cho xã hội, ngược lại bị cáo chỉ thích đi xin tiền, xin rượu để uống, không chịu lao động nuôi sống bản thân. Xét hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, nhân thân của bị cáo cần có mức hình phạt nghiêm để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội.
[4] Về tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo K có một tiền án về hành vi trộm cắp tài sản bị Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xử phạt 09 tháng tù theo Bản án số 35/2023/HS-ST ngày 05/9/2023, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 17/7/2024, chưa được xoá án tích. Đến ngày 03/4/2025 bị cáo tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Hình phạt bổ sung: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại về tài sản và thu nhập bị mất do hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng của vụ án:
Bị hại đã nhận lại xe mô tô biển số 66NA-006.79, nhãn hiệu KWASHAKI, số loại 50C, màu sơn xanh; số khung RPKDCB1PKAH0 16969, số máy RPKFM1P39FMB00026969 xe đã qua sử dụng theo Biên bản về việc trả lại tài sản, đồ vật, tài liệu ngày 09/4/2025 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[8] Đối với ông Võ Văn N1, bà Châu Thị N2 (vợ N1) không biết K điều khiển xe mô tô trên đến nhà do trộm cắp tài sản của người khác mà có nên không có căn cứ xem xét xử lý.
[9] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tại phiên tòa là có cơ sở, phù hợp với nhận định nêu trên nên chấp nhận.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn K phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn K 01 (một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 4 năm 2025.
2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Nguyễn Văn K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Huỳnh Kim Oanh |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: trộm
