TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 24-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Bùi Thị Lan
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Phan Hoàng Mai và bà Hồ Thị Kim Liên
Thư ký phiên toà: Ông Đoàn Quốc Đạt - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên
Ngày 24 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 34/2025/QĐXXST- HS ngày 03 tháng 3 năm 2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Đỗ Triệu N, sinh ngày 22/9/2004 tại thành phố L, tỉnh An Giang; nơi cư trú: số E, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 7/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; tôn giáo: phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Phú C và bà Nguyễn Thị Thúy O; bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án: Ngày 27 tháng 6 năm 2023, bị Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xử phạt 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đến ngày 29 tháng 4 năm 2024 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.
Tiền sự: Không.
Quá trình nhân thân: Ngày 30 tháng 5 năm 2022, bị Công an phường M, thành phố L ra Quyết định xử phạt hình chính 750.000đ về hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa nộp phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21 tháng 11 năm 2024 cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố L (nay là Phân trại tạm giam khu vực L - Trại tạm giam Công an tỉnh A). (Có mặt)
Bị hại: Nguyễn Thị Hương L, sinh năm 1981, (Có mặt)
Cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Nguyễn Văn D (Dũng G), sinh năm 1965, (Vắng mặt)
- Cư trú: Số A, khóm T, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
- + Nguyễn Trường P (T), sinh năm 1984, (Vắng mặt)
- Cư trú: Số A, khóm M, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ ngày 07 tháng 11 năm 2024, Nguyễn Đỗ Triệu N đang vận chuyển vật liệu để xây phần mộ cho ông ngoại của N, thấy trong sân nhà của anh Nguyễn Văn V gần nhà N, số E tổ C, khóm H, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang có 01 xe mô tô nhãn hiệu Espero, màu xanh, biển số 67AA - 101.58 của chị Nguyễn Thị Hương L (dì của N) đang dựng, không người trong giữ, nên N nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiêu xài. Thực hiện ý định, N đến chỗ xe mô tô 67AA - 101.58 dựng, thấy xe có gắn chìa khóa trong ổ khóa, thì N mở khóa lấy trộm xe điều khiển xe đến hẻm T thuộc khóm T, phường M, thành phố L dựng xe trong hẻm. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, N đi bộ đến tiệm G thuộc phường T, quận T, thành phố Cần Thơ gặp Nguyễn Văn D để liên hệ bán xe mô tô này, nhưng D không mua mà D điện thoại cho Nguyễn Trường P (T) đến tiệm G để xem mua xe. Khoảng 30 phút sau, P đến xem xe thì N nói xe đang để tại hẻm T, khóm T, phường M, thành phố L và bảo P chở N đến hẻm T xem xe thì P đồng ý. Tại đây, N chỉ nơi xe mô tô 67AA - 101.58 đang dựng và nói với P xe của N mua lại, bị mất giấy chứng nhận đăng ký xe, thì P mua xe với giá 1.300.000đ. Sau khi bán xe N đưa cho D 30.000đ, số tiền còn lại Nam tiêu xài cá nhân.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, N đến Công an phường M đầu thú hành vi trộm cắp xe nêu trên.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Espero, loại xe số, màu xanh, biển số 67AA – 101.58, số máy: 39FMB2307057, số khung: B3PEHA307057, đã qua sử dụng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 2351/KL-HĐĐGTS ngày 26 tháng 11 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L, kết luận: 01 xe mô tô hai bánh, nhãn hiệu Espero, loại xe số, màu xanh, số máy: 39FMB2307057, số khung: B3PEHA307057, số loại 50, dung tích xi lanh 49 m³, biển số 67AA – 101.58, đang hoạt động đã qua sử dụng, giá trị còn lại 50%, trị giá: 6.250.000₫.
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N khai nhận đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như nội dung vụ án đã nêu.
Chị Nguyễn Thị Hương L trình bày: Chị L bị mất trộm xe một tô như nội dung vụ án đã nêu. Chị L đã nhận lại xe và không yêu cầu bồi thường.
2
Nguyễn Văn D và Nguyễn Trường P trình bày: D giới thiệu cho N bán xe, P mua xe của N nhưng D, P không biết xe do N phạm tội mà có. P không yêu cầu N bồi thường số tiền 1.300.000đ.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSLX-HS ngày 24 tháng 02 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Đỗ Triệu N về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày nội dung luận tội: Giữ nguyên nội dung truy tố đối với bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thiệt hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên không xét đến.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng.
Về xử lý vật chứng: Không có.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố, không tranh luận với nội dung luận tội của đại diện Viện kiểm sát, bị cáo nói lời sau cùng đã ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy, sự vắng mặt của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không gây trở ngại gì đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về trách nhiệm hình sự:
3
Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ xác định:
Ngày 07 tháng 11 năm 2024, bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N đã thực hiện hành vi lấy trộm 01 xe một tô màu xanh, biển số 67AA-101.58, trị giá 6.250.000đ của chị Nguyễn Thị Hương L.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N có đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 có khung hình phạt là cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng). Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên truy tố bị cáo là có căn cứ, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với:
Nguyễn Trường P mua xe của bị cáo N nhưng không biết xe do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với P là có căn cứ.
Nguyễn Văn D giới thiệu cho bị cáo N bán xe nhưng không biết xe do trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố L không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với D là có căn cứ.
[3] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm:
Bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N là người đã thành niên, có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bản thân nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có nhân thân xấu, bị 01 bản án của Toà án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang kết án về tội “Trộm cắp tài sản” đã chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích; bị Công an phường M, thành phố L, tỉnh An Giang ra Quyết định xử phạt hành chính 750.000đ về hành vi đánh bạc trái phép nhưng chưa nộp phạt. Nay bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội đã thể hiện thái độ xem thường pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự tại địa phương và gây tâm lý hoang mang lo sợ cho người dân. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn mới tương xứng với mức độ phạm tội mà bị cáo đã gây ra để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội. Mức hình phạt tù có thời hạn mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N được
4
áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội đầu thú quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Hội đồng xét xử có xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Do bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn và thu nhập không ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Thị Hương L đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường thêm; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Trường P không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng: Không có.
[8] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N 02 (hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 21/11/2024).
2. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Đỗ Triệu N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo và bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
5
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Thị Lan |
6
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 24/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG về hình sự (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đỗ Triệu Nam phạm tội trộm cắp tài sản
