Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHÚ MỸ

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS – ST

Ngày: 21-03-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

  • - Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

    Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Nhung

    Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Bạch Gương

    Ông Nguyễn Văn Thuận

  • - Thư ký phiên tòa: Bà Diệp Minh Hường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phú Mỹ.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Tiên – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 36/2025/TLST – HS ngày 25 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST – HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Trình Đức D, sinh năm 2005 tại tỉnh Phú Yên.

Nơi cư trú: Khu phố T, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trình A, sinh năm 1970 và bà Ngô Thị B, sinh năm 1971; Bị cáo chưa có vợ, con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 20/11/2024, chuyển tạm giam ngày 23/11/2024 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thành phố P, Trại tạm giam Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Bà Thái Thị Kim L, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: Khu phố M, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Thành T, sinh năm 2001; Địa chỉ: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trình Đức D là người không có nghề nghiệp ổn định, để có tiền tiêu xài D đã nảy sinh ý định chuẩn bị dao và xe mô tô đi tìm những người phụ nữ bán tạp hóa một mình để cướp tiền.

Khoảng 12 giờ ngày 20/11/2024, D chuẩn bị sẵn 01 (một) con dao Thái Lan dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm cất giấu trong người rồi điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu đỏ - đen, BKS: 78G1-597.94 đi quanh khu vực phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tìm kiếm thì thấy tiệm T1 tại khu phố M, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do bà Thái Thị Kim L làm chủ đang bán hàng một mình, trong tiệm không có khách nên D điều khiển xe đến dựng trước cửa tiệm rồi đi bộ vào trong giả vờ mua 03 gói mì tôm, bà L báo giá 14.000 đồng, D đưa bà L 20.000 đồng. Khi bà L đi vào trong tủ lấy tiền thừa trả lại cho D thì D xông tới, cầm dao Thái Lan dí sát vào mặt bà L đe dọa “Tiền đâu, đưa tiền đây”. Thấy D cầm dao dí sát vào mặt, bà L sợ bị D đâm nên mở tủ ra đưa cho D 1.000.000 đồng. Sau đó, D tiếp tục đe dọa, bắt bà L mở tài khoản ngân hàng trên điện thoại của bà L để kiểm tra thì trong tài khoản có 2.600.000 đồng, D nói bà L chuyển 2.500.000 đồng sang tài khoản số 1046446805 ngân hàng TMCP N của D, bà L hoảng sợ nên chuyển khoản cho D số tiền trên. Sau đó, D bỏ chạy ra ngoài rồi lên xe tẩu thoát đến quầy ATM trên đường rút được số tiền 2.500.000 đồng.

Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi D đang trên đường lẩn trốn thì bị Cơ quan CSĐT Công an bắt khẩn cấp và thu giữ của D gồm: 01 con dao Thái Lan dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Suzuki Raider, màu đỏ - đen, BKS: 78G1-597.94 và số tiền 3.500.000 đồng D vừa cướp được của bà L (BL số: 28-34, 49).

  • * Về xử lý vật chứng:

    • + Đối với số tiền 3.500.000 đồng là tài sản hợp pháp của bà Thái Thị Kim L nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố P đã trả lại tiền cho bà L.

    • + Đối với xe mô tô biển kiểm soát 78A-597.94, loại xe Suzuki Raider, màu đỏ - đen là tài sản của ông Nguyễn Thành T (là anh rể của D), anh T cho D mượn để đi làm, D sử dụng xe để thực hiện hành vi cướp tài sản ông T không biết. Vì vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố P đã trả lại xe cho ông T theo Quyết định xử lý vật chứng số 2337/QĐ ngày 24/12/2024.

    • + Đối với 01 (một) con dao Thái Lan dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm là tang vật của vụ án đã chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ bảo quản, chờ xử lý theo quy định (BL số: 48, 56).

  • * Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

    Sau khi nhận lại số tiền 3.500.000 đồng, bà L không yêu cầu D phải bồi thường thêm và có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho D.

Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSPM ngày 20/02/2025, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Trình Đức D về tội: “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Mỹ giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trình Đức D phạm tội: “Cướp tài sản”. Về mức hình phạt đề nghị áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo D từ 07 năm tù đến 08 năm tù. Về xử lý vật chứng: Đã giải quyết xong. Về án phí: Bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo Trình Đức D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về thủ tục tố tụng: Qua xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án Hội đồng xét xử thấy rằng trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Điều tra và Viện kiểm sát đã tuân thủ nghiêm thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định tại các điều 88, 98, 105 Bộ luật Tố tụng hình sự; Quá trình điều tra không có bức cung, nhục hình. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về nội dung vụ án và tội danh:

    Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, qua đối chiếu với lời khai tại cơ quan điều tra, các bản kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nhận thấy phù hợp với nhau, do vậy đủ căn cứ kết luận:

    Khoảng 12 giờ ngày 20/11/2024, tại tiệm T1 thuộc khu phố M, phường M, thành phố P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu do bà Thái Thị Kim L làm chủ, Trình Đức D đã có hành vi sử dụng 01 (một) con dao Thái Lan dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11cm dí sát vào mặt bà L và đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc làm bà L hoảng sợ lâm vào tình trạng không thể chống cự được, chiếm đoạt của bà L số tiền 3.500.000 đồng rồi lên xe tẩu thoát. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, khi D đang trên đường lẩn trốn thì bị Cơ quan Công an bắt khẩn cấp cùng tang vật. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

  3. Về tính chất, mức độ đối với hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ; gây mất trật tự, an toàn xã hội tại địa phương; gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho người dân nơi xảy ra tội phạm. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Bị cáo thực hiện vụ cướp với thủ đoạn rất manh động và liều lĩnh, dùng hung khí nguy hiểm uy hiếp người bị hại để cướp tài sản. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo mới đủ sức giáo dục, răn đe bị cáo đồng thời cũng nhằm mục đích phòng ngừa tội phạm chung.
  4. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  5. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  6. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo đang bị tạm giam, không có thu nhập. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  7. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
  8. Về xử lý vật chứng: Cần tịch thu, tiêu hủy công cụ bị cáo sử dụng vào hành vi phạm tội là 01 con dao thái lan, cán nhựa màu vàng, chiều dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm, cán dao dài 10cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 2cm do không còn giá trị sử dụng.
  9. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  10. Về vấn đề khác: Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 78A-597.94, loại xe Suzuki Raider, màu đỏ - đen qua xác minh thuộc sở hữu của ông Nguyễn Thành T (là anh rể của D), ông T cho D mượn xe để đi làm, D sử dụng xe để thực hiện hành vi cướp tài sản ông T không biết nên ông T không đồng phạm với bị cáo về hành vi cướp tài sản.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trình Đức D phạm tội “Cướp tài sản”.

    Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 168, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Trình Đức D 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/11/2024.

  2. Về vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên: tịch thu tiêu huỷ 01 con dao thái lan, cán nhựa màu vàng, chiều dài 21cm, lưỡi dao bằng kim loại dài 11 cm, cán dao dài 10cm, phần rộng nhất của lưỡi dao là 2cm

    (Vật chứng trên hiện đang được Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phú Mỹ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 49/BB-CCTHADS ngày 06/01/2025).

  3. Về án phí: Buộc bị cáo Trình Đức D phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (Riêng đối với những người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày bản án được niêm yết công khai hoặc được tống đạt hợp lệ) có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh BR-VT;
  • - VKSND tỉnh BR-VT;
  • - PV 06 – Công an tỉnh BR-VT;
  • - VKSND thành phố Phú Mỹ;
  • - CCTHA dân sự thành phố Phú Mỹ;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS – ST ngày 21/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cướp tài sản

  • Số bản án: 36/2025/HS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ MỸ, TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trinh Duc Duy pham toi cuop tai san
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger