|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày: 03-04-2025. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Đoàn Thanh Trúc.
Các Hội thẩm nhân dân.
- 1/ Bà Võ Thanh Nga.
- 2/ Bà Đinh Kim Hoàng.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Tuấn là Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đoàn Quốc Sinh – Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 04 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 21/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 03 năm 2025 đối với:
- Bị cáo:
Nguyễn Văn T; sinh ngày 18 tháng 04 năm 1969 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Hộ khẩu thường trú: 4 B, Phường F, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: B, Ấp A, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Chạy xe ôm; trình độ văn hóa: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Y (chết) và bà Nguyễn Thị L (chết); vợ tên Phùng Ngọc T1, có 02 người con, lớn sinh năm 1992, nhỏ sinh năm 1995.
Tiền án: Năm 2021, Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. (Bản án số 32/2021/HS-ST ngày 26/03/2021). Bị cáo kháng cáo. Ngày 13/12/2021, Tòa án nhân dân tỉnh Long An giữ nguyên bản án sơ thẩm (Bản án số 112/2021/HS-PT ngày 13/12/2021).
Tiền sự: Không.
Bị bắt tạm giam vào ngày 30/10/2024 “có mặt”.
- Bị hại:
Ông Huỳnh Văn Y1, sinh năm 1964 “vắng mặt”.
Địa chỉ: 4 N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Mạch Bửu Anh K, sinh năm 1974 “vắng mặt”.
Địa chỉ: 5 T, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/08/2024, Nguyễn Văn T điều khiển xe gắn máy biển số 59L2-790.39 đến trước nhà số A N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh nhìn thấy ông Huỳnh Văn Y1 đi bộ bán vé số. Nguyễn Văn T nảy sinh ý định chiếm đoạt vé số để bán kiếm tiền tiêu xài. Để thực hiện ý định, Nguyễn Văn T điều khiển xe gắn máy biển số 59L2-790.39 đến giả vờ hỏi mua vé số. Sau khi, ông Huỳnh Văn Y1 đưa xấp vé số thì Nguyễn Văn T nhanh chóng dùng tay rút một cọc tờ vé số, bỏ vào túi quần rồi nói “Mua 30 tờ”. Nguyễn Văn T lấy tờ tiền 500.000 đồng đưa ra và nói “Ông có tiền thối không để tôi đi đổi tiền trả?”. Ông Huỳnh Văn Y1 chưa kịp trả lời thì Nguyễn Văn T nhanh chóng điều khiển xe gắn máy giả vờ chạy đến quán cơm gần đó cách khoảng 05 mét, sau đó nhanh chóng tăng tay ga xe gắn máy để tẩu thoát. Sau khi chiếm đoạt được vé số, Nguyễn Văn T đem đến đại lý vé số A1, số B C, Phường A, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh rồi bán cho bà Mạch Bửu A Kiều được 1.120.000 đồng và tiêu xài hết. Ông Huỳnh Văn Y1 thấy Nguyễn Văn T bỏ chạy thì đuổi theo nhưng không kịp. Đến ngày 02/08/2024, ông Huỳnh Văn Y1 đến Công an P, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh trình báo vụ việc.
Tại Kết luận định giá tài sản số 74/KL-HĐĐGTS ngày 23/10/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: 140 (một trăm bốn mươi) tờ vé số xổ số kiến thiết tỉnh Tây Ninh, ký hiệu 8K1 mua ngày 31/07/2024 (mở thưởng ngày 01/08/2024) có giá trị tại thời điểm định giá ngày 01/08/2024 là 1.260.000 đồng.
Tại Cáo trạng số 40/CT-VKSQ4 ngày 14/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- - Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu, đồng ý với tội danh bị truy tố và xin giảm nhẹ một phần hình phạt.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017. Đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù giam và miễn hình phạt bổ sung. Về xử lý vật chứng: Đề nghị: Trả lại số tiền 1.190.000 đồng cho bà Mạch Bửu Anh K, T2 lại Nguyễn Văn T 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng đen, 01 (một) quần Jean dài màu xanh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại các biên bản tự khai, biên bản lấy lời khai của bị cáo đều trình bày lời khai hoàn toàn tự nguyện. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã nêu. Qua lời khai của bị cáo, đối chiếu với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 07 giờ 30 phút ngày 01/08/2024, tại trước nhà số A N, Phường A, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn T có hành vi điều khiển xe gắn máy biển số 59L2-790.39 đến gặp ông Huỳnh Văn Y1 đang bán vé số dạo, giả vờ hỏi mua vé số. Sau khi ông Huỳnh Văn Y1 đưa xấp vé số, Nguyễn Văn T dùng tay chiếm đoạt 140 tờ vé số có giá trị tại thời điểm định giá ngày 01/08/2024 là 1.260.000 đồng rồi nhanh chóng điều khiển xe gắn máy tẩu thoát. Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với bà Mạch Bửu Anh K, quá trình điều tra không biết 140 tờ vé số mua của Nguyễn Văn T là do phạm tội mà có nên không có cơ sở để xử lý.
[3] Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được nhà nước bảo vệ. Vì vậy, cần áp dụng hình phạt tương xứng để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung tội phạm cho xã hội.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có một tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xử phạt 01 năm 06 tháng về tội “Trộm cắp tài sản” vào năm 2021. Bị cáo chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại khoản 1 Điều 53 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho ông Huỳnh Văn Y1 số tiền 1.400.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị hại ông Huỳnh Văn Y1 đã được bồi thường số tiền 1.400.000 đồng và không có yêu cầu gì khác. Quá trình chuẩn bị xét, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Văn Y1 nhưng ông vắng mặt không rõ lý do và cũng không có văn bản trình bày ý kiến gì về yêu cầu bồi thường dân sự. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[7] Về xử lý vật chứng:
Thu giữ của bà Mạch Bửu Anh K số tiền 1.190.000 đồng. Quá trình điều tra xác định: Sau khi mua của Nguyễn Văn T 140 tờ vé số với số tiền 1.120.000 đồng, bà Mạch Bửu Anh K đã bán lại cho người bán vé số dạo (không rõ lai lịch) với số tiền là 1.190.000 đồng. Sau khi làm việc với Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Mạch Bửu Anh K tự nguyện nộp lại số tiền 1.190.000 đồng. Xét, bà Mạch Bửu Anh K không biết và không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định trả lại số tiền 1.190.000 đồng cho bà Mạch Bửu Anh K.
- Thu giữ của Nguyễn Văn T 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng đen, 01 (một) quần Jean dài màu xanh. Xét, đây là trang phục do bị cáo mặc khi phạm tội, là tài sản cá nhân nên trả lại.
Đối với 01 (một) xe gắn máy biển số 59L2-790.39, quá trình điều tra xác định xe gắn máy trên do ông Nguyễn Văn T3 đứng tên chủ sở hữu. Tại Cơ quan điều tra, ông Nguyễn Văn T3 khai nhận đã đưa xe gắn máy biển số 59L2-790.39 cho ông Nguyễn Văn T sử dụng làm phương tiện chạy xe ôm kiếm tiền sinh sống. Ngày 01/08/2024, ông Nguyễn Văn T3 không biết bị cáo sử dụng xe gắn máy biển số 59L2-790.39 làm phương tiện phạm tội. Ngày 22/01/2025, Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe gắn máy cho ông Nguyễn Văn T3. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171, điểm h khoản 1 Điều 52, điểm b, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt: Nguyễn Văn T, 04 (bốn) năm tù giam về tội “Cướp giật tài sản”.
Thời hạn tù tính từ ngày 30 tháng 10 năm 2024.
- Căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021 và Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Trả lại bà Mạch Bửu A Kiều số tiền 1.190.000 đồng (một triệu một trăm chín mươi nghìn đồng).
- - Trả lại Nguyễn Văn T 01 (một) áo thun ngắn tay màu vàng đen, 01 (một) quần Jean dài màu xanh.
- (Vật chứng được tạm giữ theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 49/2025 ngày 26/02/2025 giữa Công an Q và Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh và Giấy nộp tiền số 11125148 ngày 10/01/2025).
- Căn cứ Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021; Luật phí và lệ phí:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).
- Căn cứ Điều 331 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2021:
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày họ nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Đoàn Thanh Trúc |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội cướp giật tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Cướp giật tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CGTS
