TÒA ÁN NHÂN DÂN Bản án số: 36/2025/HS-ST | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Minh Chiểu.
2. Bà Trần Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Hồ Thị Đào - Kiểm sát viên.
Trong ngày 19 tháng 6 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2025/TLST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Viết M, tên gọi khác: Không, sinh ngày: 23/11/1997 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Số căn cước công dân: [...]; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Viết S, sinh năm 1976; Con bà: Đỗ Thị T, sinh năm 1980; Gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con đầu; Bị cáo có vợ là Lê Thị M1, sinh năm 2002, có 02 con sinh năm 2021 và 2023; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày từ ngày 09/01/2025 đến ngày 18/01/2025 được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Lê Đình T1, sinh năm: 1994, địa chỉ: Thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Lê Viết S, sinh năm: 1976, địa chỉ: Thôn B, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2023, anh Lê Đình T1, sinh năm 1994, trú tại thôn L, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa có mua lại chiếc xe mô tô Yamaha Exciter, màu xanh bạc, biển số 36B4 - 412.81 nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ. Cuối năm 2023, anh T1 có ý định làm thủ tục sang tên chính chủ cho chiếc xe này, khi kiểm tra hồ sơ cấp đăng ký xe thì anh T1 thấy hồ sơ thể hiện người thừa hưởng là Lê Viết M nên anh T1 đã liên hệ với M để nhờ M làm thủ tục sang tên cho anh T1. Khi xem hồ sơ gốc có tên của M ở phần sang tên chủ xe, lúc này M nói với anh T1: “Hồ sơ này đang làm thủ tục sang tên cho tôi nên để tôi cầm hồ sơ đến Công an hỏi cho, xem có làm được không”. T1 đồng ý và giao bộ hồ sơ gốc của xe mô tô cho M. Sau khi cầm hồ sơ gốc của chiếc xe, M đã đến Công an xã X, tỉnh Thanh Hóa để nhờ Công an xã kiểm tra xem, thì Công an xã trả lời: “Hồ sơ này vẫn đang mang tên chủ cũ, hiện không làm được thủ tục sang tên”. Tối cùng ngày M dùng mạng xã hội facebook thì phát hiện có tài khoản facebook (không nhớ tên) đăng bài viết làm giấy tờ giả nên M đã nảy sinh ý định làm giả đăng ký xe cho T1 để chiếm đoạt tiền. M trao đổi với T1 là M có thể làm được thủ tục sang tên và yêu cầu T1 cung cấp thông tin cá nhân, đồng thời chuyển cho M chi phí làm thủ tục là 1.500.000 đồng. Anh T2 đã chuyển khoản trước 500.000 đồng vào số tài khoản 0888787282222 ngân hàng MB của M. Sau đó, anh T2 chuyển khoản thêm cho M 1.000.000 đồng. M hẹn anh T2 20 ngày sau sẽ có đăng ký xe. Sau khi nhận được tiền của anh T2 thì M đặt làm 01 đăng ký xe giả từ tài khoản facebook nêu trên mang tên chủ xe là Lê Đình T1 đối với xe mô tô nêu trên. Chi phí làm đăng ký xe giả hết 1.500.000 đồng. Khoảng 20 ngày sau, M nhận được đăng ký xe, do muốn chiếm đoạt thêm tiền của T1 nên M trao đổi với T1 chi phí phát sinh thêm 300.000 đồng và yêu cầu T1 chuyển thêm. T1 đã chuyển thêm 300.000 đồng cho M. Sau đó tại nhà M, M đã đưa đăng ký xe giả số 36 021233 mang tên chủ xe là LÊ ĐÌNH T1 đối với chiếc xe trên cho anh T1 mang về sử dụng.
Đến ngày 16/12/2024, anh T1 tiếp tục nhờ M làm thủ tục sang tên đổi chủ đối với xe máy nhãn hiệu Honda Air Blade, biển số 36B3 - 582.81 từ chủ sở hữu cũ là Nguyễn Văn M2 sang tên anh T1. Lê Viết M đồng ý và tiếp tục lên mạng facebook tìm người làm giả đăng ký xe thì thấy có tài khoản facebook (không nhớ tên) đăng thông tin làm giả, hai bên cho nhau số điện thoại và kết bạn Z với người làm giả đăng ký có tài khoản là “Hải Đăng”. Qua trao đổi người này nói với M chi phí làm đăng ký xe mô tô giả là 1.200.000 đồng. M trao đổi với anh T1 yêu cầu anh T1 chuyển tiền làm đăng ký xe hết 2.200.000 đồng. Ngày 24/12/2024, anh T1 chuyển khoản cho M 2.200.000 đồng. Sau khi nhận được đăng ký xe giả số 232328 mang tên LÊ ĐÌNH T1, M đã liên hệ với anh T1 để giao cho anh T1, nhưng anh T1 bận chưa kịp đến lấy. Nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nên ngày 09/01/2025 M đã đến Công an huyện Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại Bản kết luận giám định số 432/KL-KTHS ngày 17/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 232328 (ký hiệu A1) và số 36 021233 (ký hiệu A2) mẫu cần giám định là giả (bao gồm: phôi in, hình dấu, chữ ký).
Về vật chứng:
+ Lê Đình T1 giao nộp: 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 36 021233 chủ xe Lê Đình T1, xe YAMAHA Exciter, BKS 36B4 - 412.81.
+ Lê Viết M giao nộp:
- 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 232328 chủ xe Lê Đình T1, xe Honda Airblade, BKS 36B3 - 582.81.
- 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu vàng, lắp sim số thuê bao 0393.506.145.
Các vật chứng nêu trên đang được bảo quản, chờ xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Lê Viết M đã tác động gia đình hoàn trả cho anh T1 số tiền 4.000.000 đồng, anh T1 đã nhận đủ số tiền trên và không yêu cầu bồi thường gì thêm.
Đối với các tài khoản Facebook trên mạng xã hội mà Lê Viết M đã liên lạc để làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cho anh T1, do M không nhớ rõ tên đăng nhập, không biết tên và địa chỉ cụ thể là ai, tài khoản đã bị xóa, vì vậy Cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra mở rộng vụ án.
Tại bản cáo trạng số 33/CT-VKSYÐ ngày 08/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố Lê Viết M về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Bị cáo Lê Viết M khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản Cáo trạng đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định luận tội giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Viết M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Viết M từ 09 đến 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu vàng; tịch thu tiêu hủy 02 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả và 01 thẻ sim số thuê bao 0393.506.145 (lắp bên trong chiếc điện thoại Iphone 6S Plus).
Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại đầy đủ, bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét.
Về án phí: Thực hiện theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về tội danh:
Thông qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo Lê Viết M hoàn toàn thừa nhận: Do có ý định lừa đảo để chiếm đoạt tiền chi tiêu cho cá nhân, Lê Viết M đã có hành vi đưa ra thông tin không đúng sự thật về việc M có khả năng thông qua các cơ quan chức năng có thẩm quyền để chuyển thủ tục sang tên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô đối với chiếc xe Honda Airblade, BKS 36B3 - 582.81 từ chủ sở hữu cũ là Nguyễn Văn M2 sang tên Lê Đình T1, T1 đã tin tưởng và chuyển cho M2 2.200.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, M2 đã nhờ người khác làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô trên để đưa cho T1 và chi tiêu cá nhân hết số tiền trên.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt số tiền 2.200.000 đồng của bị cáo Lê Viết M đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Định truy tố bị cáo theo tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm và quan hệ pháp luật xâm phạm: Tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo được hưởng 04 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là “Người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả”, “Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và “đầu thú” quy định tại các điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt:
Từ việc đánh giá những căn cứ quyết định hình phạt nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo ở ngoài cộng đồng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ để răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tự nguyện bồi thường đầy đủ số tiền chiếm đoạt cho bị hại. Bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 36 021233 chủ xe Lê Đình T1, xe YAMAHA Exciter, BKS 36B4 - 412.81 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 232328 chủ xe Lê Đình T1, xe Honda Airblade, BKS 36B3 - 582.81 đều là giấy chứng nhận giả nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu vàng là công cụ, phương tiện bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với thẻ sim số thuê bao 0393.506.145 gắn trong điện thoại này thì tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về vấn đề khác có liên quan đến vụ án:
Đối với hành vi của Lê Viết M lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Lê Đình T1 số tiền 1.800.000đồng vào cuối năm 2023, đầu năm 2024, do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ tài liệu liên quan đến Cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với M là đúng quy định.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 65, khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Tuyên bố bị cáo Lê Viết M phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Lê Viết M 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 20 (Hai mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Viết M cho Ủy ban nhân dân xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giáo dục trong thời gian thử thách.
Giao bị cáo Lê Viết M cho Công an xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa giám sát trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại Iphone 6S Plus, màu vàng.
- - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng gồm:
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 36 021233 chủ xe Lê Đình T1, xe YAMAHA Exciter, BKS 36B4 - 412.81.
- + 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 232328 chủ xe Lê Đình T1, xe Honda Airblade, BKS 36B3 - 582.81.
- + 01 thẻ sim số thuê bao 0393.506.145 (lắp bên trong chiếc điện thoại Iphone 6S Plus).
Các vật chứng nêu trên hiện đang được bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Định, theo phiếu nhập kho số NK 39 ngày 13/5/2025.
- Về án phí: Buộc bị cáo Lê Viết M phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Lê Thị Dung |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA về lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN ĐỊNH, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử Lê Viết M phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
