|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày 19 - 6 - 2025. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;
Ông Đỗ Việt Hùng.
Thư ký phiên toà: Ông Trương Tuấn Hải - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 35/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1986; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm A, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lưu Thị N; có vợ là Nguyễn Thị N1 (đã ly hôn) và 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 03/04/2014, bị Tòa án nhân dân huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 tháng về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, đã chấp hành xong hình phạt. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N, “có mặt”.
Bị hại: Chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1990; nơi cư trú: Xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định, “vắng mặt”.
Người làm chứng: Chị Nguyễn Thị H, “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T và chị Nguyễn Thị N1, sinh năm 1990; trú tại: xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định kết hôn với nhau năm 2020, có một con chung là cháu Nguyễn Di B. Ngày 04/10/2024, T và chị N1 đã ly hôn theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 111/2024/QĐ - CNTTLH của Tòa án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, T được giao nuôi dưỡng, chăm sóc con chung, chị N1 không phải cấp dưỡng nuôi con.
Khoảng 13 giờ ngày 01/12/2024, Nguyễn Văn T đưa cháu B đến nhà em gái chị N1 là Nguyễn Thị H tại xóm C, xã H, huyện H chơi, sau đó tiếp tục đưa cháu B đến nhà chị N1 để cháu B gặp chị N1. Khi đến nơi có mình chị N1 ở nhà, T và cháu B vào chơi nói chuyện bình thường. Trong lúc nói chuyện với T, chị N1 sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G, vỏ màu hồng tím, bên trong lắp sim thuê bao số 0396.949.229 để nhắn tin. T quan sát màn hình điện thoại thấy có tin nhắn và cuộc gọi Zalo nên đã yêu cầu chị N1 đưa điện thoại để kiểm tra nhưng chị N1 không đồng ý. T liền dùng tay phải túm tóc lôi chị N1 vào phòng ngủ, dùng vũ lực bằng tay tát liên tiếp vào vùng mặt chị N1 5 đến 6 phát rồi lấy chiếc điện thoại di động của chị N1. Do điện thoại bị khóa mật khẩu nên T yêu cầu chị N1 đọc mật khẩu nhưng chị N1 không đồng ý thì T tiếp tục dùng tay tát vào mặt, người chị N1. Bị tát đau và sợ hãi nên chị N1 phải mở mật khẩu cho T kiểm tra. Sau đó T cầm điện thoại đứng chặn trước cửa buồng không cho chị N1 ra ngoài và xem các tin nhắn, cuộc gọi, Z trong điện thoại của chị N1.
Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, chị H đến nhà chị N1. Thấy chị N1 đang khóc, vùng mặt và chân tay bị xưng đỏ, bầm tím, chị H nói với T: "Anh bảo anh không đánh chị nữa, vậy mà anh vẫn đánh chị à, anh với chị tôi ly hôn rồi anh không có quyền gì đánh chị tôi". Sau đó T cầm điện thoại của chị N1 đi ra ngoài. Chị N1 yêu cầu T trả lại điện thoại cho mình nhưng T không trả mà bỏ đi về. Khi về nhà, T tháo sim điện thoại (số thuê bao 0396.949.xxx) và Căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị N1 để trong ốp điện thoại để ở nhà, còn chiếc điện thoại của chị N1, T mang theo người sau đó đã làm rơi mất. Sau khi bị T đánh, chiếm đoạt chiếc điện thoại di động, chị N1 đã đến Công an xã H trình báo sự việc. Ngày 06/12/2024, Công an xã H chuyển nguồn tin tố giác tội phạm đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H để thụ lý điều tra theo thẩm quyền. Căn cứ tài liệu điều tra, ngày 02/01/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H ra lệnh giữ, bắt người trong trường hợp khẩn cấp và ra lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Văn T thu giữ sim điện thoại, thuê bao số 0396.949.xxx, căn cước công dân số [...] của chị Nguyễn Thị N1 và 01 điện thoại nhãn hiệu ViVo vỏ màu xanh, đã qua sử dụng. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 01/KL-HĐĐG ngày 06/01/2025 của Hội đồng định giá tài sản huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 5G, vỏ màu hồng tím, đã qua sử dụng, tại thời điểm định giá có giá trên thị trường là 5.000.000đ. Quá trình điều tra, T khai chiếm đoạt chiếc điện thoại của chị N1 nhưng đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Chị Nguyễn Thị N1 không yêu cầu bị cáo T phải bồi thường về dân sự và đề nghị xử lý bị cáo theo đúng quy định của pháp luật.
Cáo trạng số 35/CT-VKS-HH ngày 22/5/2025, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Cướp tài sản” theo khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp tài sản”; xử phạt bị cáo từ 39 đến 42 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025; không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo; về xử lý vật chứng vụ án đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận và lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì; bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tại phiên tòa, bị cáo cũng không có ý kiến gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, kết hợp với kết luận giám định định giá tài sản cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 13 giờ 30 phút tại nhà chị Nguyễn Thị N1 ở xóm F, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Nguyễn Văn T mặc dù đã ly hôn với chị N1 nhưng do ghen tuông vô cớ khi thấy chị N1 nhắn tin qua zalo với người khác, T đã dùng tay túm tóc, tát nhiều phát vào mặt, người chị N1 (không gây thương tích) rồi chiếm đoạt chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A55 của chị N1 trị giá 5.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 168 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
-
Hành vi phạm tội mà bị cáo Nguyễn Văn T đã thực hiện là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến đến tính mạng, sức khoẻ của người khác, đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, mặc dù không còn là vợ chồng nhưng bị cáo vẫn ghen tuông vô cớ và đã có hành vi hành hung, dùng vũ lực để uy hiếp bị hại, buộc bị hại không thể chống cự được mà phải giao tài sản cho bị cáo. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do đó cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo nhằm trừng trị, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
-
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào nhưng có nhân thân xấu do đã bị kết án đã được xóa án tích. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
-
Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã được phân tích ở trên, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để bị cáo học tập, cải tạo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là phù hợp.
-
Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo là phù hợp.
-
Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại di động bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại, bị cáo đã làm mất, bị hại không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.
-
Về xử lý vật chứng thu giữ: Đối với chiếc một điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh là tài sản hợp pháp của bị cáo nên trả lại cho bị cáo là phù hợp. Đối với một sim điện thoại mạng Viettel, trên ghi số 8984048000946524919 và một căn cước công dân số 03690024976 mang tên Nguyễn Thị N1 là tài sản hợp pháp của bị hại nên trả lại cho bị hại là phù hợp.
-
Về án phí sơ thẩm: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ: Khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Cướp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/01/2025.
-
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Trả lại 01 (một) điện thoại nhãn hiệu VIVO màu xanh cho bị cáo Nguyễn Văn T.
Trả lại 01 (một) sim điện thoại mạng V, trên ghi số 8984048000946524919 và 01 (một) căn cước công dân số 03690024976 mang tên Nguyễn Thị N1 cho chị Nguyễn Thị N1.
(Vật chứng nêu trên được mô tả như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu ngày 06 tháng 06 năm 2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
-
Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000đồng án phí.
-
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Nguyễn Thị N1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh Xuân |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 19/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về cướp tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cướp tài sản
