Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - HƯNG YÊN

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 18-11-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HƯNG YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đào Thị Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Xuân Sơn - Nguyên Phó Ban tuyên giáo thị ủy Mỹ Hào và ông Nguyễn Văn Đại – Cán bộ Trung tâm Y tế Yên Mỹ.

Thư ký phiên toà: Ông Đào Tiến Đạt - Thư ký Toà án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Ngọc Thơ - Kiểm sát viên.

Ngày 18/11/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 34/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:

Trần Văn C, sinh năm: 1987, nơi thường trú: Thôn C, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa (nay là thôn C, xã N, tỉnh Thanh Hóa); nơi tạm trú và chỗ ở: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh L (đã chết) và con bà Mai Thị S; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

Bị hại: Bà Lê Thị M, sinh năm 1959 (đã chết)

Đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Lưu Đình T, sinh năm 1962, nơi cư trú: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. (Chồng bị hại). Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • Ông Trần Đình T1, sinh năm 1963 và anh Trần Đình T2, sinh năm 1989, đề trú tại: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. Có mặt ông T1.
  • Anh Lưu Văn H, sinh năm 1993 và chị Lưu Thị L1, sinh năm 1986, trú tại: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. Có mặt anh H.

Người làm chứng: Bà Đỗ Thị C1, sinh năm 1963, ông Nguyễn Văn M1, sinh năm 1962, ông Nguyễn Văn T3, sinh năm 1957, ông Đặng Văn C2, sinh năm 1977, anh Vũ Huy T4, sinh năm 1983, đều trú tại: Thôn H, xã N, tỉnh Hưng Yên; anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1982, trú tại: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên. Có mặt anh D.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 20/4/2025, tại khu vực sân cát Trường mầm non thôn H, xã L, huyện Y (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên, Trần Văn C, sinh năm 1987, nơi thường trú: Thôn C, xã N, huyện N (nay là xã N), tỉnh Thanh Hóa điều khiển ba bánh tự chế (công nông) lùi va vào bà Lê Thị M, sinh năm 1959, trú tại: Thôn L, xã L, huyện Y (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên đang dọn dẹp phía sau. Hậu quả làm bà M bị thương tích nặng, được gia đình đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ sau được chuyển điều trị tại Bệnh viện V, nhưng do thương tích nặng, nên gia đình xin đưa về nhà, đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày thì tử vong.

Tiến hành khám nghiệm hiện trường xác định: Nơi xảy ra vụ va chạm là khu vực sân trường mầm mầm non thôn H, xã L (nay là xã N) đang trong quá trình xây dựng thuộc địa phận thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, nền đất cát đã bị xáo trộn do đã có nhiều người đi lại vào hiện trường, phương tiện xe công nông đã được di chuyển khỏi hiện trường.

Tiến hành khám nghiệm phương tiện xe công nông liên quan xác định: Là xe ba bánh tự chế có đặc điểm: Thùng xe dài 1,7m, rộng 1,25m, cao 0,60m, vệt bánh 1,25m, mặt lăn bánh xe 0,18m, chiều dài từ đầu xe đến cuối xe 3,25m, khoảng sáng gầm xe cầu sau cách mặt đất 0,27m; phía sau thùng xe, phía dưới bên trái cụm đèn sau bị vỡ hỏng bật rời, có kích thước (0,15x0,35)m, điểm cao nhất cách mặt đường 0,65m; toàn bộ mặt ngoài má lốp của 02 bánh sau, gầm xe, thành xe không còn để lại dấu vết gì liên quan; Hệ thống điều khiển, hệ thống phanh còn hoạt động bình thường.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Phòng K - Công an tỉnh H giám định pháp y để xác định nguyên nhân chết, thể loại chết của bà Lê Thị M, nhưng gia đình bà M từ chối khám nghiệm tử thi, nên không khám nghiệm tử thi bà M được.

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H ra Quyết định trưng cầu Trung tâm Pháp y và Giám định Y khoa tỉnh H giám định xác định nguyên nhân chết và xác định tổn thương cơ thể qua hồ sơ đối với bà Lê Thị M. Tại bản kết luận giám định số: 18/2025/KLTGThs- TTPY&GĐYK ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Trung tâm Pháp y và Giám định Y khoa tỉnh H kết luận: Căn cứ thông tư 22/2019/TT-BYT, ngày 28 tháng 8 năm 2019 của Bộ Y tế quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, tỷ lệ tổn thương cơ thể của bà Lê Thị Minh Q hồ sơ là 74%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư; Cơ chế hình thành các thương tích Gãy dập màng ngoài tim, mở khoang màng ngoài tim "Thủng màng ngoài tim"; Tổn thương màng phổi bên phải, đã dẫn lưu màng phổi; Tổn thương màng phổi bên trái, đã dẫn lưu màng phổi trái; Vỡ cơ hoành bên phải phải can thiệp phẫu thuật; Vỡ gan phải đã phẫu thuật khâu cầm máu nhu mô gan; T5 mạc treo hồi tràng khâu cầm máu đơn thuần; Gãy thân xương đùi trái; Các tổn thương này là do dạng chèn ép, va đập với vật cứng hoặc nền cứng gây nên; Cơ chế hình thành các thương tích Vết thương kích thước lớn từ vùng ngực xuống đường trắng giữa trên dốn, do phẫu thuật mở ngực, mở ổ bụng; Cưa xương ức "Tổn thương xương ức đơn thuần, không biến dạng lồng ngực"; Vết thương nhỏ thành ngực phải đã dẫn lưu màng phổi phải; Vết thương nhỏ thành ngực trái do đặt dẫn lưu màng phổi trái; Vết thương nhỏ thành bụng phải do đặt dẫn lưu dưới hoành bên phải; Các tổn thương này do can thiệp Y tế gây nên; Do không có biên bản kiểm thảo tử vong và cũng không khám nghiệm tử thi, không có bản ảnh tử thi nên không đủ căn cứ khoa học để xác định nguyên nhân chết của bà Lê Thị Minh Q hồ sơ.

Kết quả điều tra xác định: Trần Văn C là người làm thuê cho gia đình ông Trần Đình T1, công việc chính là bốc vác và vận chuyển vật liệu xây dựng từ bãi tập kết của gia đình ông T1 ở thôn L, xã L, huyện Y (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên đến các công trình xây dựng của người dân ở xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên. Khoảng 07 giờ ngày 20/4/2025, theo sự điều hành của anh Trần Văn T6 là con trai của ông Trần Đình T1, thì Trần Văn C đã bốc xếp lên xe và điều khiển xe ba bánh tự chế (xe công nông) của gia đình ông Trần Đình T1 chở 02 tấn ximang cùng 30 cây sắt phi 30 từ bãi vật liệu xây dựng của gia đình ông T1 đến công trình xây dựng nhà trọ của gia đình bà Đỗ Thị C1 và ông Nguyễn Văn M1 ở thôn H, xã L, huyện Y (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên. Khi C điều khiển xe công nông đi tắt qua sân trường mầm non L2 địa chỉ tại thôn H, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên đang trong quá trình xây dựng, sân nền đất cát, ở cạnh nhà bà C1, ông M1 thì xe công nông bị sa lầy, nên C đã nhờ một số người thợ xây cho gia đình ông M2, bà C3 đẩy xe hộ, nhưng không tiến lên được, nên C phải hạ xi măng và sắt xuống sân trường mầm non. Sau khi hạ hết xi măng và sắt cây xuống sân trường mầm non, C điều khiển xe công nông lùi xe lên khỏi vị trí sa lầy, nhưng do không quan sát phía sau, C tiếp tục điều khiển xe đi lùi khoảng 3m thì va vào người bà Lê Thị M đang dọn dẹp phía sau, làm bà M bị ngã và xe công nông chèn lên người gây thương tích, được gia đình đưa đi cấp cứu và điều trị, nhưng do thương tích nặng không cứu chữa được nên gia đình xin đưa bà M về nhà, đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày thì tử vong.

Đối với anh Trần Đình T2 là chủ xe ba bánh tự chế, là người giao xe ba bánh tự chế mà nhà nước cấm lưu hành cho Trần Văn C điều khiển để xảy ra tai nạn trong khu vực sân trường mầm non xã L, không phải đường giao thông. Do vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh H không xử lý hình sự đối với anh Trần Đình T2.

Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã tạm giữ 01 xe ba bánh tự chế (công nông) để chờ xử lý theo pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Văn C cùng với gia đình chủ xe ông Trần Đình T1, anh Trần Đình T2 và gia đình bà Lê Thị M đã tự thỏa thuận về việc bồi thường dân sự, Trần Văn C và ông Trần Đình T1 đã tự nguyện bồi thường số tiền 300.000.000 đồng, đại diện gia đình bà M đã nhận đủ số tiền trên, đồng thời có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho Trần Văn C.

Quá trình điều tra Trần Văn C thành khẩn khai nhận hành vi vi phạm tội.

Cáo trạng số 14/CT-VKS-YM ngày 04/9/2025, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên truy tố Trần Văn C về tội: “Vô ý gây thương tích” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Xét thấy, thiếu chứng cứ dùng để chứng minh một trong các hành vi cấu thành tội phạm, xác định tội danh của Trần Văn C và có dấu hiệu Trần Đình T2 thực hiện hành vi phạm tội khác liên quan đến việc T2 giao xe công nông cho C đưa vào tham gia giao thông chở vật liệu xây dựng giao cho gia đình bà C1 nên ngày 30/9/2025 Toà án nhân dân khu vực 2-Hưng Yên trả hồ sơ điều tra bổ sung, đề nghị Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Hưng Yên:

  • Thu thập hồ sơ bệnh án ban đầu của bà Lê Thị M điều trị tại Bệnh viện Đ ngày 20/4/2025 trước khi chuyển bà M lên Bệnh viện V.
  • Trích xuất Camera tại Trường mầm non T8, xã N, tỉnh Hưng Yên thời điểm xảy ra tội phạm thời gian khoảng 07h30 đến 08 giờ 50 phút ngày 20/4/2025.
  • Bổ sung tài liệu xác định khoảng cách, cung đường xe công nông mà C chở vật liệu xây dựng từ bãi vật liệu xây dựng của Trần Đình T2 đến điểm tập kết vật liệu của gia đình bà Đỗ Thị C1 và điểm xảy ra tai nạn.
  • Khám nghiệm xe công nông để xác định số lượng, vị trí và tình trạng hoạt động các đèn chiếu hậu, còi của xe.
  • Giám định xi lanh và tình trạng kỹ thuật của xe công nông tự chế T2 đưa vào lưu thông do Trần Văn C điều khiển gây tai nạn.
  • Bổ sung anh Nguyễn Đình D, sinh năm 1982, trú tại: Thôn L, xã N, tỉnh Hưng Yên (con rể bị hại, người đưa bị hại đi cấp cứu cùng Trần Đình T2 tại Bệnh viện Đ) với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vụ án, lấy lời khai xác định tình trạng của bị hại sau khi xảy ra tai nạn, việc thanh toán viện phí cho bà Lê Thị M tại Bệnh viện Đ.
  • Dựng lại hiện trường vụ án.

Tuy nhiên, cùng ngày Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hưng Yên có công văn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và không thực hiện bất cứ yêu cầu nào theo quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung của Toà án đồng thời chuyển lại hồ sơ vụ án để Toà án nhân dân khu vực 2 Hưng Yên tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.

Ngày 16/10/2025 Toà án nhân dân khu vực 2- Hưng Yên trả hồ sơ điều tra bổ sung lần 2 cho Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2-Hưng Yên để điều tra, truy tố Trần Văn C về hành vi Vô ý làm chết người tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật Hình sự.

Ngày 04/11/2025 Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hưng Yên có công văn giữ nguyên quan điểm truy tố Trần Văn C về tội Vô ý gây thương tích quy định tại điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Anh Lưu Văn H con trai bị hại xác định sau khi xảy ra tai nạn bà M được đưa đến cấp cứu tại Bệnh viện Đ, chi phí cấp cứu, điều trị hết 4.200.000 đồng, chủ xe là anh Trần Đình T2 đã ứng trước viện phí 3.000.000 đồng, còn thiếu 1.200.000 đồng gia đình tự chi trả, đến nay gia đình không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền trên và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Anh Nguyễn Đình D con rể bị hại, người đưa bị hại đến Bệnh viện Đ cấp cứu trình bày, khi anh đến sân trường mầm non thôn H1 để đưa bà M đi cấp cứu thì bà M trong tình trạng bụng đã phù nề chương phình to, chân gãy gập như chân ếch, mồm ú ớ kêu đau nhưng hồi không trả lời, tại Bệnh viện Đ các Bác sỹ đã trả lời gia đình là bà M không thể cứu chữa, trả về nhưng gia đình nghĩ còn nước, còn tát nên xin chuyển bà M lên Bệnh viện V điều trị.

Ông Trần Đình T1 trình bày toàn bộ số tiền bồi thường cho gia đình bị hại là tiền của gia đình ông, bị cáo đề nghị ông bồi thường thay cho bị cáo, gia đình ông không yêu cầu bị cáo hoàn trả số tiền đã bồi thường cho bị hại, đối với xe công nông cơ quan công an thu giữ ông đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo C thay đổi lời khai đề nghị Hội đồng xét xử xét xử bị cáo về tội Vô ý gây thương tích như Cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố bị cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên trình bày luận tội giữ nguyên quan điểm truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội Vô ý gây thương tích. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 138; điểm b, i s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C từ 09 tháng đến 01 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án. Ngoài ra, còn đề nghị xử lý vật chứng và án phí.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về việc vắng mặt của đại diện bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa: Xét thấy những người trên đã được triệu tập hợp lệ, tại giai đoạn điều tra họ đã có lời khai đầy đủ, đều có đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên.

[2]. Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Điều tra - Công an tỉnh H và Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng từ giai đoạn điều tra cho đến phiên tòa sơ thẩm đều hợp pháp.

[3]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà ngày 19/9/2025 phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp lời khai của những người làm chứng là ông Nguyễn Văn T3, ông Lưu Đình T, anh Lưu Văn H, anh Trần Đình T2, bà Đỗ Thị C1, ông Nguyễn Văn M1, ông Mùi Văn T7 và lời khai của anh Nguyễn Đình D con rể bị hại; phù hợp với Bệnh án ngoại khoa của Bệnh viện V và Kết luận giám định số 18/2025/KLTGThs-TTPY&GĐYK ngày 12/6/2025 của Trung tâm pháp y và giám định y khoa – Sở Y1 xác định thương tích của bà M do dạng chèn ép, va đập với vật cứng hoặc nền cứng gây lên. Các sự kiện xảy ra có tính logic về thời gian, có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hội đồng xét xử đủ căn cứ xác định: Khoảng 08 giờ ngày 20/4/2025, tại khu vực sân cát Trường mầm non thôn H, xã L, huyện Y (nay là xã N), tỉnh Hưng Yên, Trần Văn C điều khiển xe ba bánh tự chế (xe công nông) lùi trong sân trường khoảng 3 m thì va vào bà Lê Thị M. Hậu quả làm bà M bị đa chấn thương, vỡ gan, phổi, gãy thân xương đùi trái, chấn thương sọ não, ngay sau khi xảy ra tai nạn bà M được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đ sau được chuyển điều trị tại Bệnh viện V, do thương tích nặng, đến khoảng 23 giờ 40 phút cùng ngày thì tử vong.

Bị cáo Trần Văn C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nhận thức được xe công nông là nguồn nguy hiểm cao độ không được phép lưu thông, trước khi lùi xe bị cáo không xuống quan sát, không bấm còi, tự tin nghĩ rằng trong sân trường không có ai, để xảy ra tai nạn, hậu quả bị hại chết.

Hành vi của bị cáo Trần Văn C không cấu thành tội Vô ý gây thương tích theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự, mà cấu thành tội Vô ý làm chết người theo quy định tại khoản 1 Điều 128 Bộ luật hình sự.

Bà Lê Thị M đang dọn dẹp tại trường mầm non T8, một người đang lao động, sức khoẻ bình thường, không có tiền sử về bệnh tật. Trần Văn C lùi xe công nông va chèn lên người, làm bà M chân gãy gập như chân ảnh ếch, bụng phù lề, chướng phình to, được đưa vào cấp cứu tại Bệnh viện Đ, tại đây bệnh viện đã trả lời gia đình: Không cứu chữa được. Viện kiểm sát nhân dân khu vực 2- Hưng Yên không tiến hành thu thập hồ sơ bệnh án ban đầu của bà M tại Bệnh viện Đ, không tiến hành lấy lời khai anh D là người đưa bà M đi cấp cứu và cho rằng gia đình bị hại từ chối giám định tử thi, cơ quan tố tụng không trưng cầu được cơ quan chuyên môn giám định tử thi nên không có căn cứ khoa học xác định nguyên nhân chết của bị hại. Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát sát trưng cầu giám định thương tích bị hại Lê Thị Minh qua Bệnh án ngoại khoa điều trị tại Bệnh viện V, xác định thương tích các tổn thương của bà M là 74% để khởi tố và truy tố Trần Văn C về tội Vô ý gây thương tích theo điểm b khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự là không chính xác.

[4]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ. Vì vậy, cần phải áp dụng hình phạt nghiêm đối với bị cáo mới có tác dụng cải tạo, giáo dục riêng và răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.

[5]. Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, thì thấy:

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra bị cáo C thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội bị cáo cùng chủ xe tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả; gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

[6]. Về quyết định hình phạt: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian theo quy định của pháp luật.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và chủ xe đã bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 300.000.000 đồng. Gia đình bị hại đã nhận đủ số tiền trên và không có ý kiến gì khác. Do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[8]. Về vật chứng: Xe ba bánh tự chế không đảm bảo điều kiện được tham gia giao thông cần cho tháo dỡ bán vật liệu sung ngân sách nhà nước.

[9]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Khoản 1 Điều 128; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 Bộ luật Hình sự.
  2. Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Vô ý làm chết người”.
  3. Xử phạt: Bị cáo Trần Văn C 01 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi thi hành án.
  4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 46; điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu cho tháo dỡ, bán vật liệu sung ngân sách Nhà nước 01 xe công nông (xe tự chế) đã qua sử dụng.

    (Vật chứng trên đã chuyển Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 - Hưng Yên theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 11/9/2025).

  5. Về án phí: Bị cáo Trần Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, đại diện bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày. Thời hạn kháng cáo của những người có mặt tại phiên toà tính từ ngày tuyên án, người vắng mặt tại phiên toà tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Hưng Yên;

- CQ CSĐT Công an tỉnh Hưng Yên;

- VKSND khu vực 2- Hưng Yên;

- Phòng THA DS khu vực 2 - Hưng Yên;

- Bị cáo;

- Đại diện bị hại;

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;

- Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Đào Thị Thu Hương

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 18/11/2025 của Toà án nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên về vô ý làm chết người

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vô ý làm chết người
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân khu vực 2 - Hưng Yên
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Trần Văn C phạm tội “Vô ý làm chết người”.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger