Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 14/3/2025

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Chu Thị Tuyết .

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Vũ Tiến Thịnh;

  2. Bà Trần Thị Thu Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Huế - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Thái Bình tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Đạo - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 3 năm 2025, tại hai điểm cầu, điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình và điểm cầu thành phần tại phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 24/2025/HSST ngày 18 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 32/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo: Phạm Ngọc B, sinh ngày 25/10/1976, trú tại thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam; con ông Phạm Ngọc T (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; Vợ: Võ Thị Thúy T2 (Nguyễn Thị T3) (đã ly hôn), có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án số 20/2015/HSST ngày 06/02/2015 của Toà án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xử phạt Phạm Ngọc B 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, chấp hành xong án phí ngày 26/03/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/01/2017. Bị tạm giữ từ ngày 16/01/2025 đến ngày 22/01/2025 chuyển tạm giam cho đến nay.

* Người chứng kiến:

  1. Anh Nguyễn Văn B1, sinh năm 1979, trú tại tổ A, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

  2. Anh Phạm Văn H, sinh năm 1976, trú tại thôn V, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình.

* Tại điểm cầu thành phần:

- Ông Hoàng Minh Đ và ông Lương Đức V - Cán bộ phân trại tạm giam khu vực thành phố T, tỉnh Thái Bình.

- Ông Lương Duy H1 - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo, vắng mặt anh B1, anh H).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/01/2025, Phạm Ngọc B đi bộ từ nhà đến khu vực đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình mua 01 gói Heroine của một người phụ nữ, không biết tên, tuổi, địa chỉ với giá 500.000 đồng, rồi đi tìm chỗ sử dụng. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, khi B đi đến khu vực thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị tổ công tác của Công an xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của anh Nguyễn Văn B1 và anh Phạm Văn H, B tự giác giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục và khai nhận đó là H2 của B cất giấu để sử dụng cho bản thân.

Bản Kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: “Mẫu vật gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng 0,3794 gam.

Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi của mình đúng như bản cáo trạng đã nêu.

Bản cáo trạng số 34/CT-VKSTPTB ngày 17 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 35; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Đề nghị xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/01/2025.

Phạt bổ sung từ 05 đến 07 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau giám định và toàn bộ bao gói.

  • Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo không bào chữa và không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố vụ án được thực hiện đúng quy định của pháp luật về thẩm quyền, trình tự, thủ tục nên các hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án này là hợp pháp. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có khiếu nại hay có ý kiến gì.

[2] Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được chứng minh bằng:

Biên bản bắt người phạm tội quả tang; Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; Bản Kết luận giám định số 78/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T. Biên bản ghi lời khai của những người chứng kiến. Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 16/01/2025, tại khu vực thôn T, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình, Phạm Ngọc B có hành vi tàng trữ trái phép 01 gói ma tuý, loại Heroine, có khối lượng 0,3794 gam mục đích để sử dụng cho bản thân, bị tổ công tác của Công an xã V, thành phố T phát hiện, bắt quả tang.

Như vậy hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

[3] Về tính chất, mức độ hậu quả hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, gây hậu quả nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng là người có nhân thân xấu, đã phạm tội bị Tòa án đưa ra xét xử. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, bố bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ giải phóng

hạng ba, mẹ bị cáo được Nhà nước tặng thưởng huân chương chiến sỹ giải phóng hàng nhì, hạng ba, huân chương kháng chiến chống mỹ cứu nước hạng ba nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt:

[5.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần thiết phải xử phạt mức hình phạt nghiêm minh với hành vi phạm tội của bị cáo, cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

[5.2] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo có nhân thân xấu đã phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy, phạt bổ sung bị cáo để nộp ngân sách nhà nước.

[6] Về vật chứng của vụ án: Số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là vật thuộc loại nhà nước cấm lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

[7] Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ: Bị cáo khai mua ma túy của một người phụ nữ không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, nên cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không đủ căn cứ để xử lý.

[8] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 38; Điều 35; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án:

  1. Về tội danh - Tuyên bố: Bị cáo Phạm Ngọc B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc B 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 16/01/2025.

Phạt bổ sung bị cáo 3.000.000 triệu đồng để nộp ngân sách nhà nước.

  1. Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy loại Heroine còn lại sau giám định là 0,3343 gam trong phong bì niêm phong số 78/KL-KTHS ngày 21/01/2025 của Phòng K Công an tỉnh T.

(Vật chứng của vụ án có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an thành phố T đã chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thái Bình ngày 18/02/2025).

  1. Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 14/3/2025)./.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

TÒA

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN

Chu Thị Tuyết

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;

  • - Tòa án ND tỉnh TB;

  • - VKSND tỉnh Thái Bình;

  • - VKSND TP Thái Bình;

  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Thái Bình;

  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Thái Bình;

  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Bình;

  • - Phòng hồ sơ Công an tỉnh Thái Bình;

  • - Chi cục THADS TP Thái Bình;

  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Chu Thị Tuyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 14/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc B - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger