|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 36/2025/HS-ST Ngày: 12-6-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Huỳnh Thủy Tiên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tạo.
- Bà Ngô Hồng Điệp.
- Thư ký phiên tòa: bà Đặng Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Bích Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 33/2025/TLST-HS ngày 16 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Trương Thị Thúy N (tên gọi khác: không), sinh ngày 20/10/1992, tại Cà Mau; nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: ấp T, xã P, huyện C, tỉnh Long An; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Quốc T (đã chết) và bà Lê Thị T1, sinh năm 1968; có chồng tên Huỳnh Văn T2 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2011, nhỏ nhất sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2025 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Nguyễn Thị Ngọc L, sinh năm: 1967 (có mặt);
- Nguyễn Thị Mộng T3, sinh năm: 1990 (có mặt);
- Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1976 (vắng mặt);
- Lê Văn Đ, sinh năm: 1968 (có mặt);
- Lê Thị T5, sinh năm: 1968 (vắng mặt);
Địa chỉ: khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: khu A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: D, HT B, Khu phố F, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: ấp L, xã Y, huyện G, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Lê Thị T1, sinh năm: 1968 (có mặt);
- Nguyễn Văn K, sinh năm: 1987 (vắng mặt);
- Đỗ Minh H, sinh năm: 1992 (có mặt);
- Tô Thị Thùy D, sinh năm: 2004 (có mặt);
- Phạm Thị Hòa B, sinh năm: 1975 (có mặt);
- Phạm Minh M, sinh năm: 1984 (vắng mặt);
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: E cao đường K, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
Địa chỉ: Khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: khoảng 07 giờ 30 phút ngày 29/7/2024, Trương Thị Thúy N điều khiển xe mô tô biển số 62L1-846.26 đến tiệm T7 Thủ của bà Nguyễn Thị Ngọc L ở Khu phố A, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An để mua sữa. Tại đây, N phát hiện trên tủ kính trưng bày gần cửa ra vào của quán có để 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64G màu đen, gắn sim số 0902.325.559, bên trong ốp lưng điện thoại có tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trên. Lúc này, N giả vờ mua thêm chai nước trong tủ lạnh rồi lợi dụng lúc bà L đi lấy nước không để ý, N lén lút lấy trộm điện thoại trên kèm theo tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng bỏ trong túi áo khoác rồi thanh toán tiền cho bà L và lên xe chạy về nhà. Khi về đến nhà, N lấy điện thoại của bà L ra kiểm tra thì thấy bị khóa mật khẩu nên N tháo sim trong điện thoại ra gắn vào điện thoại nhãn hiệu Samsung Galaxy A14 của N rồi đăng nhập vào tài khoản Zalo của bà L tên “Ngọc L”. Sau khi đăng nhập được vào tài khoản zalo của bà L, N nhắn tin cho ông Lê Văn Đ, giả vờ là bà L hỏi mượn ông Đ số tiền 13.000.000 đồng và kêu ông Đ chuyển vào tài khoản ngân hàng của chị Phạm Thị Hòa B số tiền 9.000.000 đồng và chuyển vào tài khoản ngân hàng của chị Tô Thị Thùy D số tiền 4.000.000 đồng. Khi nhận được tin nhắn từ zalo của bà L, ông Đức T6 là bà L mượn tiền thật nên đồng ý chuyển tiền như yêu cầu của N. Sau khi nhận được tin nhắn của ông Đ thông báo là giao dịch chuyển tiền cho D và B đã thành công thì N nhắn tin kêu B và D chuyển lại số tiền trên vào tài khoản của N thì được B và D đồng ý. Xong, N đem điện thoại vừa trộm được đến cửa hàng di động Minh Huân của anh Đỗ Minh H ở ấp Đ, xã T, huyện C bán với giá 1.700.000 đồng. Còn sim số 0902.325.559 sau khi nhắn tin mượn tiền xong N tháo ra và ném bỏ.
Tại kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTX, ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện C thì giá trị của 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Iphone Xs max, 64Gb, màu đen; 01 (một) chiếc ốp lưng Iphone Xs max, nhựa dẻo và 01 (một) sim điện thoại số 0902.325.xxx là: 7.438.000 đồng.
Quá trình điều tra còn xác định được ngoài lần trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản nêu trên thì Trương Thị Thúy N còn 02 lần trộm cắp tài sản và 01 lần lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác trên địa bàn huyện C. Cụ thể như sau:
Lần thứ 1, vào khoảng 11 giờ 20 phút ngày 29/7/2024, sau khi chiếm đoạt được điện thoại của bà L và tiền của ông Đ, N tiếp tục điều khiển xe mô tô trên đến tiệm hủ tiếu gà Hiếu B1 Training của anh Đỗ Thanh H1 ở Khu phố C, thị trấn C, huyện C để mua cháo gà. Tại đây, N phát hiện có 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 128G, màu tím, gắn sim số 0708690910, ốp lưng hình gấu và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4, 128G, màu xanh, gắn ốp lưng nhựa dẻo màu đen của chị Nguyễn Thị Mộng T3 là vợ anh H1 để trên bàn nên N lén lút lại lấy trộm 02 điện thoại trên bỏ trong cốp xe. Sau đó, N điều khiển xe chạy lên khu vực Thành phố H rút số tiền 13.000.000 đồng mà D và B chuyển lại cho N để trả nợ cho người thanh niên tên C không rõ lai lịch. Trên đường về nhà, N ghé cửa hàng điện thoại Alo phone của anh Nguyễn Văn K ở khu phố H, thị trấn C, huyện C bán điện thoại Iphone 14 Promax của chị T3 được số tiền 7.000.000 đồng. Riêng điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4 Ny cất lại để sử dụng. Khoảng 15 giờ cùng ngày N bị Công an mời làm việc thì N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Sau đó, N đưa cho bà Lê Thị T1 là mẹ của N số tiền 8.700.000 đồng nhờ bà T1 đến cửa hàng điện thoại của anh K và anh H mua lại 02 điện thoại mà N đã bán để giao nộp cho Công an.
Tại kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTX, ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện C thì tổng giá trị của 01 (một) điện thoại Iphone 14 Pro Max, bản 128GB, màu tím, mua tháng 08/2023; 01 (một) điện thoại Oppo Reno 4, 128 GB, Ram D, màu xanh mua vào năm 2020 (không rõ ngày, tháng mua); 01 (một) ốp lưng Iphone 14 Pro Max, nhựa màu có gắn Sticker; 01 (một) ốp lưng Oppo Reno 4, nhựa dẻo màu đen và 01 (một) sim điện thoại số 0708.690.xxx là: 22.980.000 đồng.
Lần thứ 2, vào khoảng 18 giờ ngày 02/02/2025, Trương Thị Thúy N điều khiển xe đạp điện màu vàng nhãn hiệu DH155 đến chùa T8 thuộc Khu phố H, thị trấn C, huyện C, tỉnh Long An để thả ếch phóng sanh. Đến nơi, N đi vào bên trong chùa phát hiện trên ván gỗ nhà sau chùa có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05S, màu đen của anh Nguyễn Văn T4 đang sạc pin không người trong coi nên N nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản trên bán lấy tiền tiêu xài. Lúc này, N lén lút đi lại lấy trộm điện thoại trên bỏ vào trong túi áo khoác rồi ra xe tẩu thoát. Ny điều khiển xe đạp đến công viên thị trấn C, thuộc Khu phố A, thị trấn C lấy điện thoại vừa trộm được ra xem rồi đăng nhập vào Zalo của anh T4 tên “THAY CHUA CĐ”. Sau khi đăng nhập được vào tài khoản zalo của anh T4, N giả vờ là anh T4 nhắn tin cho bà Lê Thị T5 có tên Z là “Cô 8” để mượn số tiền 10.000.000 đồng. Do sợ bị phát hiện nên N kêu bà T5 chuyển tiền qua tài khoản 9773238344 mở tại ngân hàng V do Phạm Minh M đứng tên chủ tài khoản. Lúc này, bà T5 tưởng anh T4 mượn tiền thật nên đồng ý chuyển khoản số tiền trên qua số tài khoản của M. Xong, N điện thoại cho M hỏi thì biết M đã nhận được tiền nên N chạy xe đạp đến nhà M lấy số tiền trên. Lúc này, N lấy 500.000 đồng trả tiền thiếu Mẫn, số còn lại 9.500.000 đồng M đưa cho N. Xong, N lấy điện thoại trộm cắp của anh T4 và số tiền chiếm đoạt của bà T5 đem về nhà cất giấu trong phòng ngủ. Đến ngày 27/02/2025, Công an mời N1 về làm việc thì N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình vào giao số tài sản chiếm đoạt cho công an tạm giữ.
Tại kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTX, ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong TTHS huyện C thì giá trị của 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung A05S, màu đen, bản 128G + 01 (một) sim điện thoại số 0984.992.xxx là 2.656.000 đồng.
Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an huyện C có tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, bản 64G, màu đen; 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone XS Max nhựa dẻo trong; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max bản 128G, màu tím; 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone 14 Pro Max bằng nhựa màu có gắn Sticker; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo reno 4, 128G, màu xanh; 01 (một) ốp lưng điện thoại Oppo Reno 4, nhựa dẻo màu đen; 01 (một) sim điện thoại số 0708.690.xxx; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu trắng bạc; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 62L1-856.26 và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A05S, màu đen, bản 128G cùng 01 sim điện thoại số 0984.992.xxx, số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), 01 (một) xe đạp điện màu vàng nhãn hiệu DH155. Tất cả các tài sản trên do bị cáo Thúy N giao nộp; số tiền 500.000 đồng do Lê Minh M1 giao nộp. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại tất cả các tài sản trên cho các chủ sở hữu. Riêng 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu trắng bạc của N vẫn tiếp tục tạm giữ để xử lý theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L, Nguyễn Thị Mộng T3, Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị T5 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bồi thường gì thêm. Riêng Ông Lê Văn Đ yêu cầu Trương Thị Thúy N bồi thường lại số tiền đã chiếm đoạt là 13.000.000 (Mười ba triệu đồng).
Tại Cáo trạng số 37/CT-VKSCĐ ngày 12/5/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố Trương Thị Thúy N về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên tòa:
Bị cáo Trương Thị Thúy N thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như bản Cáo trạng đã nêu và đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo là không oan sai. Bị cáo Trương Thị Thúy N đồng ý với Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTX, ngày 29/8/2024; Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTX, ngày 30/8/2024; Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐGTX, ngày 19/02/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện C.
Bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L trình bày: diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bị cáo trình bày tại phiên tòa và đúng với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Bà đồng ý với Kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐGTX, ngày 29/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện C. Bà đã nhận lại tài sản bị trộm. Về trách nhiệm hình sự: bà yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: bà không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Bị hại chị Nguyễn Thị Mộng T3 trình bày: diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bị cáo trình bày tại phiên tòa và đúng với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Chị đồng ý với Kết luận định giá tài sản số 28/KL-HĐĐGTX, ngày 30/8/2024 của Hội đồng định giá thường xuyên trong Tố tụng hình sự huyện C. Chị đã nhận lại tài sản bị trộm. Về trách nhiệm hình sự: chị yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: chị không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.
Bị hại ông Lê Văn Đ trình bày: diễn biến hành vi phạm tội của bị cáo đúng như bị cáo trình bày tại phiên tòa và đúng với bản Cáo trạng của Viện kiểm sát. Ông chưa nhận lại được tài sản bị chiếm đoạt. Về trách nhiệm hình sự: ông yêu cầu xử lý theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: ông yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền chiếm đoạt là 13.000.000 đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Lê Thị T1 trình bày: bà là mẹ của bị cáo. Xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 62L1-856.26 và xe đạp điện màu vàng nhãn hiệu DH155 là tài sản của bà. Do bị cáo sống chung nhà với bà và không có phương tiện đi lại nên bà có cho bị cáo sử dụng chung xe. Khi bị cáo sử dụng xe để làm phương tiện đi trộm tài sản thì bà không biết. Hiện nay bà đã nhận lại 02 xe trên và không có yêu cầu gì khác. Ngoài ra, bà là người đi mua lại điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64G màu đen và điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 128G, màu tím về dùm cho bị cáo để giao nộp cho Công an. Số tiền để mua lại 02 điện thoại trên là của bị cáo đưa cho bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Phạm Thị Hòa B trình bày: chị và bị cáo N chỉ quen biết nhau. Chị là chủ số tài khoản 101005800393 mở tại ngân hàng V1. Sáng ngày 29/7/2024, tài khoản của chị có nhận được số tiền 9.000.000 đồng từ một tài khoản khác chuyển vào. Sau đó thì bị cáo gọi điện thoại cho chị nhờ chị chuyển lại vào tài khoản của bị cáo. Sau khi bị cáo gửi thông tin số tài khoản cho chị thì chị đã chuyển đầy đủ số tiền 9.000.000 đồng cho bị cáo N. Chị B không biết số tiền trên là do bị cáo lừa đảo người khác mà có.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Tô Thị Thùy D trình bày: chị và bị cáo N chỉ quen biết nhau. Chị là chủ số tài khoản 109878695369 mở tại ngân hàng V1. Do trước đây bị cáo N cũng thường hay mượn tiền của chị nên giữa chị và bị cáo có chuyển khoản qua lại với nhau. Sáng ngày 29/7/2024, chị có nhận được tin nhắn qua zalo của bị cáo N nhờ chuyển lại số tiền 4.000.000 đồng đã gửi vào số tài khoản của chị. Sau khi kiểm tra tài khoản thì chị thấy tài khoản của chị có nhận số tiền 4.000.000 đồng nên chị đã chuyển khoản lại vào tài khoản của bị cáo N. Sau đó, chị có chụp lại màn hình chuyển khoản cho bị cáo N biết. Chị D không biết số tiền trên là do bị cáo lừa đảo người khác mà có.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Đỗ Minh H trình bày: ngày 29/7/2024, bị cáo Trương Thị Thúy N có đến cửa hàng điện thoại của anh để bán 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64G màu đen với giá 1.700.000 đồng. Khi bán điện thoại thì bị cáo nói là điện thoại của chồng bị cáo bị quên mật khẩu không mở được. Anh H không biết điện thoại là do bị cáo trộm cắp của người khác. Đến tối cùng ngày thì mẹ của bị cáo là bà Lê Thị T1 có tiệm điện thoại của anh để mua lại điện thoại với giá 1.700.000 đồng thì lúc đó anh mới biết điện thoại trên là do bị cáo trộm cắp mà có.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C trong phần luận tội đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo xét thấy đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự như cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo là đúng tội, đúng pháp luật, không oan.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: bị cáo Trương Thị Thúy N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù về tội Trộm cắp tài sản.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Thúy N chấp hành hình phạt chung từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù.
Xét bị cáo không nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 173, khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
Về xử lý vật chứng: căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu trắng bạc.
Về trách nhiệm dân sự: căn cứ Điều 548 của Bộ luật dân sự, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại ông Lê Văn Đ số tiền đã chiếm đoạt là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
Tại phần tranh luận:
Bị cáo Trương Thị Thúy N đồng ý với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có ý kiến tranh luận gì thêm. Về mức hình phạt, bị cáo xin được giảm nhẹ.
Bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L, chị Nguyễn Thị Mộng T3, ông Nguyễn Văn Đ1 đồng ý với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1, anh Đỗ Minh H, chị Tô Thị Thùy D, chị Phạm Thị Hòa B đồng ý với luận tội của Đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng: bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt để sớm về với gia đình để nuôi con nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Thủ tục tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại và các đương sự không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, có căn cứ xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, bị hại anh Nguyễn Văn T4, bà Lê Thị T5, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Nguyễn Văn K, anh Phạm Minh M vắng mặt nhưng đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Thúy N khai nhận hành vi như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án. Từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định: trong thời gian từ ngày 29/7/2024 đến ngày 02/02/2025, do không có tiền trả nợ Trương Thị Thúy N đã 03 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 33.574.000 đồng. Cụ thể: lần thứ nhất, vào ngày 29/7/2024, tại khu phố A, thị trấn C, huyện C, bị cáo N đã lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max 64G màu đen, gắn sim số 0902.325.559, bên trong ốp lưng điện thoại có tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng của bà Nguyễn Thị Ngọc L, tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 7.938.000 đồng; lần thứ 2, vào ngày 29/7/2024, tại khu phố C, thị trấn C, huyện C, bị cáo N lén lút trộm cắp 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax, 128G, màu tím, gắn sim số 0708690910, ốp lưng hình gấu và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno 4, 128G, màu xanh, gắn ốp lưng nhựa dẻo màu đen của chị Nguyễn Thị Mộng T3 với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 22.980.000 đồng; lần thứ 3, vào ngày 02/02/2025, tại Khu phố H, thị trấn C, huyện C, bị cáo N lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A05S, màu đen, bản 128G cùng sim số 0984.992.389 của anh Nguyễn Văn T4, với tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 2.656.000 đồng. Sau khi trộm cắp được điện thoại của các bị hại nêu trên, N đã 02 lần đăng nhập vào tài khoản zalo của các bị hại trên để lừa đảo người khác chiếm đoạt tổng số tiền là 23.000.000 đồng. Cụ thể: lần thứ nhất, vào ngày 29/7/2024, sau khi chiếm đoạt được điện thoại của bà Nguyễn Thị Ngọc L, bị cáo N đăng nhập vào tài khoản zalo của bà L, giả vờ là bà L để nhắn tin lừa đảo ông Lê Văn Đ chuyển khoản tiền cho N 13.000.000 đồng; lần thứ 2, vào ngày 02/02/2025, sau khi chiếm đoạt được điện thoại của anh Nguyễn Văn T4, N đăng nhập vào tài khoản zalo của anh T4, giả vờ là anh T4 nhắn tin lừa đảo bà Lê Thị T5 chuyển khoản cho N số tiền 10.000.000 đồng.
[3] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận biết tài sản hợp pháp của người khác sẽ được pháp luật bảo vệ nhưng vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây tâm lý hoang mang, lo lắng, làm mất an ninh trật tự tại địa phương. Quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, ai xâm phạm đến sẽ bị pháp luật xử lý. Tuy nhiên do bị cáo lười lao động nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để thực hiện hành vi lén lút và dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt.
[4] Từ những phân tích và nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Trương Thị Thúy N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Điều 173 của Bộ luật Hình sự quy định như sau: “1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự. Điều 174 của Bộ luật Hình sự quy định như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”. Viện kiểm sát nhân dân huyện C đã truy tố bị cáo Trương Thị Thúy N ra trước Tòa án nhân dân huyện C để xét xử về tội danh và điều luật trên là có căn cứ.
[5] Xét tính chất, hành vi phạm tội, hậu quả của vụ án cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo Trương Thị Thúy N đã 03 lần Trộm cắp tài sản của người khác và 02 lần Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của người khác, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trương Thị Thúy N đã thành khẩn khai báo, khắc phục hậu quả, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Xét quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị xử phạt tù và mức hình phạt đối với bị cáo Trương Thị Thúy N là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[9] Về hình phạt bổ sung: xét thấy, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định. Do đó, cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 174 của Bộ luật Hình sự.
[10] Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tạm giữ: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone XS Max, bản 64G, màu đen; 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone XS Max nhựa dẻo trong; 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 14 Pro Max bản 128G, màu tím; 01 (một) ốp lưng điện thoại Iphone 14 Pro Max bằng nhựa màu có gắn Sticker; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo reno 4, 128G, màu xanh; 01 (một) ốp lưng điện thoại Oppo Reno 4, nhựa dẻo màu đen; 01 (một) sim điện thoại số 0708.690.xxx; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu trắng bạc; 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 62L1-856.26 và 01 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng); 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung A05S, màu đen, bản 128G cùng 01 sim điện thoại số 0984.992.xxx, số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), 01 (một) xe đạp điện màu vàng nhãn hiệu DH155. Tất cả các tài sản trên do bị cáo N giao nộp; số tiền 500.000 đồng do anh Lê Minh M1 giao nộp. Hiện Cơ quan điều tra đã trả lại tất cả các tài sản trên cho các chủ sở hữu là phù hợp. Riêng 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu trắng bạc của bị cáo N là công cụ, phương tiện được bị cáo N dùng vào việc phạm tội nên căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[11] Về trách nhiệm dân sự: bị hại bà Nguyễn Thị Ngọc L, chị Nguyễn Thị Mộng T3, anh Nguyễn Văn T4 và bà Lê Thị T5 đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt nên không yêu cầu bị cáo bồi thường, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo N đồng ý bồi thường cho bị hại ông Lê Văn Đ số tiền đã chiếm đoạt là 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).
[12] Về án phí: bị cáo Trương Thị Thúy N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[13] Đối với anh Nguyễn Văn K và anh Đỗ Minh H khi mua điện thoại của bị cáo Trương Thị Thúy N bán nhưng không biết nguồn gốc của các điện thoại trên; chị Tô Thị Thùy D, chị Phạm Thị Hòa B, anh Phạm Minh M là những người nhận tiền vô tài khoản ngân hàng giúp bị cáo N nhưng tất cả đều không có bàn bạc thỏa thuận trước với N và cũng không biết N lừa đảo người khác chuyển tiền nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.
[14] Đối với 01 (một) xe mô tô hiệu Honda Vision, màu xanh đen, biển số 62L1-856.26 và xe đạp điện nhãn hiệu DH155 do bà Lê Thị T1 là chủ sở hữu, khi bị cáo N sử dụng để làm phương tiện thực hiện hành vi trộm cắp thì bà T1 không biết nên Cơ quan CSĐT Công an huyện C và Cơ quan CSĐT Công an tỉnh L không xem xét xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Trương Thị Thúy N phạm tội “Trộm cắp tài sản” và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
- Về xử lý vật chứng:
- Về trách nhiệm dân sự:
- Về án phí: áp dụng Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trương Thị Thúy N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 650.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định của Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trương Thị Thúy N 01 (một) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Trương Thị Thúy N chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam là ngày 24/3/2025.
Căn cứ vào Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự, tiếp tục tạm giam bị cáo Trương Thị Thúy N 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (12/6/2025) để đảm bảo thi hành án.
Căn cứ vào khoản 5 Điều 174 và khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, miễn hình phạt bổ sung là hình phạt tiền cho bị cáo Trương Thị Thúy N.
Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2021.
Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu trắng bạc (Hiện Chi cục thi hành án dân sự huyện C đang tạm giữ theo Quyết định chuyển vật chứng số: 21/QĐ-VKSCĐ ngày 12/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C và Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 15/5/2025).
Căn cứ vào Điều 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Ghi nhận bị cáo Trương Thị Thúy N đồng ý bồi thường cho bị hại ông Lê Văn Đ số tiền 13.000.000 đồng (mười ba triệu đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thủy Tiên |
Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 12/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 36/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
