Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 10 – NINH BÌNH

Bản án số:36/2025/HS-ST

Ngày: 09-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Ngọc Long.

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Đỗ Văn Cận;

Ông Nguyễn Hồng Minh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Vi Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình tham gia phiên toà: Bà Lâm Thị Tuất - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình xét xử công khai, sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 36/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 42/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn T. Sinh ngày: 14/8/1973, nơi sinh, nơi cư trú: Xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/12; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn R (đã chết) và con bà Nguyễn Thị S; bị cáo có vợ là Đỗ Thị H (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/8/2025 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 3 - Công an tỉnh N. Tại phiên tòa bị cáo “có mặt”.

- Người chứng kiến:

  • + Anh Nguyễn Thanh S1; “vắng mặt”;
  • + Anh Hoàng Quang Đ; “vắng mặt”;

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 10 giờ ngày 26/08/2025, tổ tuần tra - Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma tuý- Công an tỉnh N làm nhiệm vụ tại khu vực đường dong thuộc xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình phát hiện Nguyễn Văn T, sinh năm 1973, trú tại xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình đang đứng một mình có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành kiểm tra hành chính và mời người chứng kiến việc kiểm tra. Qúa trình kiểm tra, tổ công tác đã phát hiện, thu giữ trong túi quần đùi bên phải phía trước T đang mặc 01 gói giấy màu trắng, trên giấy có chữ màu đen, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng, T khai là hêroin vừa mua để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Văn T và tang vật về trụ sở Công an xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói chất bột màu trắng thu của T trong phong bì thư ký hiệu T1 và thu mẫu nước tiểu của T niêm phong ký hiệu A để trưng cầu giám định.

Tại bản kết luận giám định số 737/KL-KTHS ngày 28/8/2025 của phòng K Công an tỉnh N kết luận “Mẫu chất bột đạng cục màu trắng có khối lượng 0,126 gam được niêm phong ký hiệu T1 gửi giám định là ma tuý, loại Heroine (H)

Tại bản kết luận giám định số 738/KL-KTHS ngày 31/8/2025 của phòng K Công an tỉnh N kết luận: Có tìm thấy các chất gồm M, C và 6 - MAM trong 01 (một) mẫu nước tiểu được niêm phong ký hiệu A gửi giám định .

* Morphine, C và 6 - MAM là các sản phẩm chuyển hoá của Heroine (Heroin) trong nước tiểu.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Cáo trạng số 13/CT-VKS-KV10, ngày 17/11/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình luận tội, đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự;

- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 03 năm 03 tháng đến 03 năm 06 tháng tù

- Về hình phạt bổ sung: Hoàn cảnh kinh tế gia đình bị cáo khó khăn đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu số ma tuý đã thu giữ của bị cáo cho tiêu huỷ.

Bị cáo không tự bào chữa, tranh luận gì.

Trong lời nói sau cùng bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, kết hợp với kết luận giám định về số ma túy thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định:

Khoảng 10 giờ ngày 26/8/2025, tại khu vực đường dong thuộc xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình. Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy – Công an tỉnh N phát hiện bắt quả tang Nguyễn Văn T sinh năm 1973, trú tại xóm H, xã G, tỉnh Ninh Bình có hành vi cất giấu trái phép 0,126 gam heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang đã cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) như Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Ninh Bình đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính nguy hiểm của hành vi phạm tội: Hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện, tiếp tay cho tệ nạn mua bán, sử dụng trái phép chất ma tuý, một hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, là nguồn gốc phát sinh nhiều loại tội phạm như: Trộm cắp tài sản, cướp tài sản..., làm tan vỡ hạnh phúc bao gia đình. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội; là người nghiện ma túy nên bị cáo đã thấu hiểu được tác hại của ma túy nhưng vẫn cố tình tàng trữ để sử dụng cho bản thân. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bị cáo theo quy định của pháp luật hình sự để răn đe và phòng ngừa.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Về hình phạt chính: Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian là áp dụng hình phạt tù có thời hạn tương xứng với tính chất mức độ hành vi cũng như theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát mới đủ tác dụng trừng trị, giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy hoàn cảnh kinh tế của bị cáo khó khăn, nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về xử lý vật chứng thu giữ: Số ma túy đã thu giữ của bị cáo là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu cho tiêu hủy.

[8] Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, T khai vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 26/8/2025, T đến khu vực chợ thuộc xóm H, xã G mua của một người đàn ông (T không biết tên, tuổi, địa chỉ) với giá 400.000 đồng nhưng trong quá trình điều tra xác minh không xác định được đối tượng đã bán ma túy cho T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N không có căn cứ để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý là phù hợp.

[9] Qúa trình điều tra T khai trước đó có sử dụng ma túy nhưng không nhớ thời gian, địa điểm sử dụng ma túy. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh tại Công an xã G, tỉnh Ninh Bình, xác định Nguyễn Văn T không thuộc diện các đối tượng phải chịu trách nhiệm về tội sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại Điều 256a Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), nên không xử lý đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là phù hợp.

[10] Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[11] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý";

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/8/2025.

2. Xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106; của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu, tiêu hủy số ma túy trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 737/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh N ngày 28/8/2025;

(Chi tiết vật chứng theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 1026/14/BB-PTHADS ngày 26/11/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an tỉnh N và Phòng Thi hành án dân sự khu vực 10 – Ninh Bình).

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND +VKSND tỉnh NB;
  • - VKSND KV10 - NB;
  • - THADS tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an tỉnh Ninh Bình;
  • - UBND xã Giao Ninh;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Long

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Cận Nguyễn Hồng Minh

Phạm Ngọc Long

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger