Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 36/2025/HS-ST

Ngày 05/12/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Bá Bảy
  • - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thế Hằng, ông Nguyễn Trọng Khánh
  • - Thư ký phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thắng – Thư ký Tòa án
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Ông Dương Minh Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại Tòa án nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2025/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2025 và Thông báo dời lịch xét xử số 04/TB-TA ngày 20/11/2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Seo Hồng - sinh ngày 01 tháng 01 năm 1995; Nơi sinh: tỉnh Tuyên Quang (trước đây là tỉnh Hà Giang); Nơi cư trú: thôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk (trước đây là: Thôn E, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk); Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ học vấn: 3/12; Giới tính: nam; Dân tộc: H'Mông; Tôn giáo: tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lù Seo H (sinh năm 1972); Con bà: Sùng Thị X (sinh năm 1971); Vợ Sùng Thị V (sinh năm 1999); Có 02 con (con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2017); Nhân thân: Chưa bị xử lý hình sự, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú kể từ ngày 13/8/2025; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Những người được triệu tập đến phiên toà:

  • - Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Sùng Seo S - sinh năm 1988 (có mặt)
  • Địa chỉ: Thôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk.
  • - Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Hữu H1 - Trợ giúp viên pháp lý.
  • Địa chỉ: Trung tâm T, tỉnh Đắk Lắk (có mặt).
  • - Nguyên đơn dân sự: Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk.
  • Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Văn Đ - Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk (có đơn xin vắng mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Sùng Thị V – sinh năm 1999 (có mặt)
    • Địa chỉ: Thôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk.
    • + Ông Sùng Seo C – sinh năm 1974 (có mặt)
    • Địa chỉ: Thôn E, xã C, tỉnh Đắk Lắk
    • + Ông Lý Văn Q – sinh năm 1986 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk
    • + Ông Triệu Văn M – sinh năm 1994 (vắng mặt)
    • Địa chỉ: Thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk
  • - Người làm chứng
    • + Ông Sùng Seo S1 – sinh năm 1983 (có mặt)
    • Địa chỉ: Thôn B, xã C, tỉnh Đắk lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần mua đất rẫy để canh tác, khoảng tháng 7/2024, Lù Seo H2 đến gặp và nói chuyện với Sùng Seo S2 (là cậu ruột của H2) sinh năm: 1990, trú tại thôn B, xã C, tỉnh Đắk Lắk hỏi mua đất thì S2 cho H2 số điện thoại của Triệu Văn M để liên hệ hỏi mua đất. Sau khi nói chuyện qua điện thoại, M hẹn H2 cùng nhau đi xem đất rồi thống nhất giá cả. Đến sáng ngày 22/7/2024, M dẫn H2 cùng Sùng Seo S1 (là cậu ruột của H2) đi xem đất tại lô NQH 12, khoảnh NQH, T thuộc thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn B, xã C). Hiện trạng đất được chia thành hai khu vực, một khu vực ở dưới chân đồi đã được phát dọn. Khu vực còn lại, tính từ ngang đồi lên đến đỉnh đồi là rừng tự nhiên còn nhiều cây gỗ, lá còn xanh, đường kính khoảng 10-30cm. M nói đây là đất rẫy của Lý Văn Q, sinh năm: 1986, trú tại thôn A, xã E, tỉnh Đắk Lắk có nhờ M bán giùm. Sau khi dẫn H2 và S1 đi một vòng quanh khu đất, đi theo hướng từ dưới chân đồi lên đến đỉnh vòng qua bên trái đến rẫy trồng keo rồi đi xuống, M nói diện tích đất cần bán khoảng một hecta giá 70.000.000 đồng và hẹn ngày hôm sau cùng với Q chủ đất lên để xác định ranh giới. Sáng ngày 23/7/2024, Q, M và H2 đi lên lại khu đất mà M đã dẫn H2 xem trước đó, khi đến nơi Q dẫn H2 đi từ dưới chân đồi lên đến gần ngang đỉnh đồi rồi chỉ tay xuống dưới nói diện tích bán khoảng 01 hecta toàn là cây dây leo và cây tre khu vực này không có cây gỗ rừng và nói với H2 đừng lấn sang đồi bên kia vì phần đó là đất rừng. Trong lúc đi từ chân đồi lên phía trên, H2 dùng bình xịt sơn màu đỏ để xịt, đánh dấu vào các gốc cây đứng để xác định ranh giới do Q chỉ dẫn, sau đó mọi người đi về. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H2 cùng S1 đến nhà Q, hai bên thống nhất mua miếng đất của Q với số tiền 70.000.000 đồng, rồi viết giấy mua bán đất với nhau.

Sau khi mua đất xong, H2 thấy từ giữa đồi lên đỉnh đồi có một phần diện tích đất rừng tự nhiên còn nhiều cây gỗ đứng, lá còn xanh tươi, đường kính khoảng từ 10cm đến 30cm, có nhiều cây bụi, bụi le; nên từ ngày 25/01/2025 đến ngày 27/01/2025, H2 đã dùng dao phát dọn những cây có đường kính nhỏ, dùng cưa máy cắt hạ những cây có đường kính lớn để dọn dẹp mặt bằng chuẩn bị khai phá để trồng bắp. Đến 16 giờ ngày 04/02/2025, khi H2 đang phát dọn thì bị tổ công tác của UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (Nay là Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk) phối hợp với Trạm Kiểm lâm địa bàn liên xã C đi tuần tra rừng phát hiện lập biên bản.

Hiện trường ngày 07/02/2025 thể hiện: Nơi xảy ra vụ phá rừng là Lô ngoài quy hoạch 12, khoảnh ngoài quy hoạch, Tiểu khu ngoài quy hoạch thuộc lâm phần do UBND xã C (nay là thôn B, xã C, tỉnh Đắk Lắk) quản lý. Hiện trường có cây bụi, dây leo và cây gỗ có đường kính gốc từ 10 - 40 cm, đã bị chặt hạ phần thân, cành, lá khô héo nằm trên phần đất, Diện tích rừng bị thiệt hại là 0,65ha, thiệt hại 100%.

- Tại Bản kết luận giám định trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 01 ngày 12/3/2025 và Bản kết luận giám định bổ sung trong lĩnh vực Lâm nghiệp số 02 ngày 09/6/2025 của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Đ, kết luận:

  • + Xác định lô, khoảnh, tiêu khu, chủ thể quản lý của rừng bị phá: Thuộc lô NQH 12, khoảnh NQH, Tiểu khu NQH, thuộc lâm phần do UBND xã C quản lý, địa giới hành chính thôn B, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk.
  • + Xác định trạng thái, chức năng, mức độ thiệt hại, diện tích rừng bị phá: Loại rừng thuộc quy hoạch đất rừng sản xuất.
  • + Trạng thái rừng bị phá là rừng thường xanh kiệt (TXK).
  • + Mức độ thiệt hại 100%.
  • + Diện tích rừng bị thiệt hại là 0,65ha (6.500m²).
  • + Xác định khối lượng, chủng loại gỗ bị thiệt hại: Khối lượng gỗ bị thiệt là 11,328 m³/59 thân, lóng cây.

- Tại Bản kết luận định giá tài sản số 323 ngày 10/9/2025 của Hội đồng định giá thường xuyên tỉnh Đắk Lắk, kết luận:

  • + Giá trị lâm sản (khối lượng gỗ) của 59 thân (lóng) cây gỗ, tổng khối lượng 11,328 m³ có giá trị 11.328.000 đồng.
  • + Giá trị thiệt hại về môi trường trên diện tích 0,65ha (6.500m²) rừng bị hủy hoại là 11.328.000 đồng.

Tổng giá trị thiệt hại về rừng trên diện tích 0,65ha (6.500m²) rừng bị hủy hoại là 22.656.000 đồng.

- Vật chứng thu giữ:

  • + 01 cưa máy nhãn hiệu STIHL số hiệu MS 381, màu cam trắng;
  • + 01 dao phát cán làm bằng gỗ dài 47cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 40cm;
  • + Khối lượng gỗ 11,328m³.

Cáo trạng số 17/CT-VKS ngày 30/9/2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk truy tố bị cáo Lù Seo H2 về tội: “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 BLHS.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 - Đắk Lắk giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lù Seo H2 từ 01 (một) năm 04 (bốn) tháng đến 01 (một) năm 08 (tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 02 (hai) năm 08 (tám) tháng đến 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Lù Seo H2 cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Công nhận bị cáo Lù Seo H2 đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại, nộp đầy đủ số tiền 22.656.000 đồng cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk (nguyên đơn dân sự).

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS, đề nghị:

  • + Tịch thu, tiêu hủy 01 dao phát cán làm bằng gỗ dài 47cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 40cm.
  • + 01 giấy mua bán vườn giữa Lù Seo Hồng và Lý Văn Q (bản chính) là tài liệu liên quan đến vụ việc cần lưu trong hồ sơ vụ án.
  • + Đối với khối lượng gỗ 11,328m³, do hiện trường vụ án địa hình đồi núi hiểm trở, không có đường vận chuyển, nên không thể vận chuyển khối lượng gỗ bị thiệt hại ra khỏi hiện trường được; trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã lập biên bản giao toàn bộ khối lượng gỗ 11,328m³ cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk trông coi, quản lý và bảo vệ tại hiện trường theo biên bản lập ngày 07/02/2025. Tuy nhiên, hiện nay toàn bộ khối lượng gỗ trên đã bị mọt, mối xông, hư hỏng, mục nát toàn bộ, không còn; nên không đề cập xem xét xử lý.

Tại phiên tòa, Bị cáo Lù Seo H2 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và không có ý kiến tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo. Bởi vì, hiện nay bị cáo đang còn phải đi điều trị bệnh suy thận; vợ bị cáo đi làm công nhân ở xa; một mình bị cáo phải nuôi dưỡng hai con nhỏ.

Người bào chữa cho bị cáo trình bày lời bào chữa: Về tội danh, Điều khoản áp dụng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đồng ý với quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát; người bào chữa không có ý kiến tranh luận gì. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét điều kiện hoàn cảnh của bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; trình độ học vấn thấp nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế; điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo rất khó khăn, bị cáo bị bệnh thận nặng. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét xử phạt bị cáo dưới mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Lời khai của bị cáo Lù Seo H2 tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án; như vậy có đủ căn cứ kết luận: Sau khi Lù S3 H2 nhận và khai phá phần diện tích đất mua của ông Lý Văn Q, do muốn mở rộng thêm diện tích đất để làm nương rẫy, nên trong khoảng thời gian từ ngày 25/01/2025 đến ngày 27/01/2025, bị cáo Lù Seo H2 đã dùng cưa máy và dao để cắt, chặt phá các cây gỗ rừng nhằm mục đích để lấy đất làm nương rẫy; diện tích đất rừng mà bị cáo Lù Seo Hồng C1, chặt phá là 6.500m², loại rừng sản xuất, vị trí tại lô NQH 12, khoảnh NQH, tiểu khu NQH; thuộc lâm phần do Nhà nước giao cho UBND xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là xã C, tỉnh Đắk Lắk) quản lý. Tổng giá trị thiệt hại xác định được là 22.656.000 đồng (Giá trị lâm sản khối lượng gỗ 11,328 m³ là 11.328.000 đồng và giá trị thiệt hại về môi trường trên diện tích 6.500m² rừng bị hủy hoại là 11.328.000 đồng).

Như vậy, hành vi mà bị cáo Lù Seo H2 thực hiện đã có đủ các yếu tố cấu thành tội “Huỷ hoại rừng” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự đúng như Bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 7 – Đắk Lắk truy tố.

Điểm b khoản 1 Điều 243 Bộ luật hình sự quy định:

1. Người nào đốt, phá rừng trái phép hoặc có hành vi khác huỷ hoại rừng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

b) Rừng sản xuất có diện tích từ 5.000 mét vuông (m²) đến dưới 10.000 mét vuông (m²);

[3]. Hành vi mà bị cáo Lù Seo H2 thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được rằng việc cắt, chặt phá, huỷ hoại rừng trái phép là vi phạm pháp luật, nhưng với mục đích muốn có đất để khai phá làm nương rẫy, bị cáo đã bất chấp sự nghiêm cấm của pháp luật, nên trong khoảng thời gian từ ngày 25/01/2025 đến ngày 27/01/2025, bị cáo Lù Seo H2 đã dùng cưa máy và dao để cắt, chặt phá đối với diện tích rừng (loại rừng sản xuất) 6.500m²; tổng giá trị thiệt hại đã xác định được là 22.656.000 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm trực tiếp đến chế độ quản lý, bảo vệ rừng của Nhà nước mà còn ảnh hưởng đến môi trường sinh thái, môi trường tự nhiên trong khu vực.

[4]. Xét tính chất, mức độ hậu quả của hành vi mà bị cáo gây ra, cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra, như vậy mới đảm bảo được việc giáo dục bị cáo có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật và qua đó cũng có tác dụng răn đe phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; không có tiền án, tiền sự; sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại để khắc phục hậu quả; tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thực sự biết ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có trình độ học vấn thấp, là người dân tộc thiểu số sống ở vùng sâu, vùng xa, điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên nhận thức hiểu biết về pháp luật có phần hạn chế; hiện nay bị cáo còn phải nuôi dưỡng hai con nhỏ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng, nhân đạo của pháp luật. Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, nên có đủ căn cứ chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo được tự cải tạo ngoài xã hội dưới sự giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo.

[5]. Mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị xử phạt đối với bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy là có căn cứ và phù hợp, nên chấp nhận.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7]. Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/11/2025, bị cáo Lù Seo H2 đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại đã được xác định với số tiền 22.656.000 đồng cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk (nguyên đơn dân sự) và Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[8]. Đối với ông Lý Văn Q là người bán đất cho Lù Seo H2, quá trình điều tra xác định: Mảnh đất trên được gia đình ông Q khai hoang từ năm 1995, năm 2010 ông Q lập gia đình nên được bố mẹ cho khoảng 01ha để làm kinh tế nên ông Q trồng điều, bắp, đậu. Ngày 23/7/2025, ông Q sang nhượng cho bị cáo Lù Seo H2, khi sang nhượng ông Q nói với H2 chỉ sang nhượng phần diện tích đất trống không có cây rừng. Việc H2 chặt phá rừng trái phép với diện tích 0,65ha thì ông Q không biết, không có lỗi, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý ông Q là có căn cứ.

Đối với Triệu Văn M là người giới thiệu cho Lù S3 Hồng mua đất của ông Lý Văn Q. Quá trình điều tra xác định được, M không biết ranh giới giữa mảnh đất của ông Q với đất rừng do Ủy ban nhân dân xã Q1, khi giới thiệu mua bán đất, M có nói với H2 nếu mua đất thì không được phát dọn diện tích rừng phía trên, nếu bị cơ quan chức năng xử lý thì M không chịu trách nhiệm và M không biết H2 chặt phá rừng trái phép, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý M là có căn cứ.

Đối với Sùng Thị V (vợ của Lù Seo H2), quá trình điều tra xác định Sùng Thị V không biết và không tham gia cùng với H2 để cắt, chặt phá rừng, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là có căn cứ, đúng pháp luật.

[9]. Về xử lý vật chứng:

Đối với cưa máy nhãn hiệu STIHL, số hiệu MS 381 thuộc sở hữu của ông Sùng Seo C. Việc bị cáo Hồng M1, sử dụng cưa máy để đi cắt, phá rừng ông C không biết, không có lỗi, nên Cơ quan CSĐT đã ra quyết định trả lại cưa máy cho ông Sùng Seo C là đúng pháp luật, nên chấp nhận.

Đối với một dao phát cán làm bằng gỗ dài 47cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 40cm mà bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, đây là tài sản của bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với khối lượng gỗ 11,328m³, căn cứ vào Biên bản xác định hiện trạng gỗ tại hiện trường vào ngày 28/11/2025 của Hội đồng do Hạt kiểm lâm K thành lập đã xác định: Toàn bộ khối lượng gỗ 11,328 m³ là vật chứng trong vụ án, do bị ảnh hưởng bởi thời tiết nắng, mưa nằm tại vị trí đồi núi, không có đường để phương tiện vận chuyển số vật chứng trên về trụ sở để bảo quản theo quy định. Tại thời điểm kiểm tra, đoàn kiểm tra xác nhận: Toàn bộ khối lượng gỗ 11,328 m³ là vật chứng trong vụ án “Hủy hoại rừng” xảy ra tại lô NQH12, khoảnh NQH, T, thuộc thôn B xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk (nay là thôn B, xã C, tỉnh Đắk Lắk) đã bị mọt, mối xông, hư hỏng, mục nát toàn bộ nên không còn, vì vậy Hội đồng xét xử không đề cập xử lý.

[10]. Về án phí: Bị cáo thuộc diện được miễn án phí theo quy định của pháp luật (người đồng bào dân tộc thiểu số, sống ở vùng có hoàn cảnh kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn), nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Lù Seo H2 phạm tội “Huỷ hoại rừng”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Lù Seo H2 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 05/12/2025).

Giao bị cáo Lù Seo H2 cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Trong trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 BLHS; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, Điều 591 BLDS.

Chấp nhận bị cáo Lù Seo H2 đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho Ủy ban nhân dân xã C, tỉnh Đắk Lắk (nguyên đơn dân sự) số tiền 22.656.000 đồng.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của BLTTHS.

  • Tịch thu, tiêu hủy một con dao phát cán làm bằng gỗ dài 47cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 40cm. (Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 02/10/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra và Phòng thi hành án dân sự Khu vực 7 - Đắk Lắk).
  • Chấp nhận Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông Sùng Seo C một cưa máy nhãn hiệu STIHL, số hiệu MS 381. (có đặc điểm theo quyết định xử lý vật chứng ngày 10/9/2025 của Cơ quan cảnh sát điều tra).

4. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lù Seo H2 được miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm.

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND Khu vực 7 - Đắk Lắk;
  • - Cơ quan thi hành án hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ Công an tỉnh Đắk Lắk (PV06);
  • - THADS tỉnh Đắk Lắk;
  • - Phòng THADS Khu vực 7 - Đắk Lắk;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN, CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Bá Bảy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 36/2025/HS-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK về huỷ hoại rừng (criminal case)

  • Số bản án: 36/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Huỷ hoại rừng (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 - ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lù Seo Hồng - Huỷ hoại rừng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger